• Đêm đó, ánh nến trong phòng Dược Vương không tắt, ông thức suốt đêm giở các thư tịch cổ ra tra cứu thông tin gì đó, có vẻ hối hả và lo lắng, cả ngày hôm nay ông không ăn gì, giam mình suốt trong thư phòng. Khai Minh lần đầu tiên thấy nghĩa phụ như vậy nên không yên tâm, liền sang phòng gõ cửa và hỏi:

    – Nghĩa phụ! Người nghỉ ngơi một lát rồi dùng cơm đi, cả ngày nay người cứ ở trong thư phòng suốt sẽ mệt đấy! Hài nhi có chừa thức ăn cho người trong bếp, toàn là những món nghĩa phụ rất thích.

    – Ta không thấy đói, các con cứ ăn rồi nghỉ ngơi sớm, ta đang bận việc rất quan trọng, khi nào xong tự khắc ta sẽ tìm con.

    Khai Minh định hỏi thêm nhưng thấy Khương Bách có vẻ bận rộn nên chàng đành lủi thủi quay về phòng với nhiều nghi vấn trong lòng.

    – Kẻ lạ mặt hôm nay là ai? Khai Phát vừa báo tin thì nghĩa phụ lập tức có biểu hiện kì lạ, không lẽ người biết kẻ đó? Sau đó lao vào thư phòng khoá trái cửa từ sáng tới giờ, thật là khó hiểu.

    Chàng đang suy tư thì nghe có tiếng khẽ động trên mái ngói khu nhà gỗ phía Tây, Khai Minh lập tức đề khí phi thân lên mái nhà thì phát hiện một kẻ vừa lùn vừa béo, thân hình chỉ cao tới bụng chàng, gương mặt chằng chịt vết sẹo, có vẻ hốc hác, ánh mắt trắng dã, mái tóc màu hung đỏ, điều kì lạ là hai tay hắn rất dài. Hắn đang nhìn chằm chằm vào Khai Minh tỏ vẻ xua đuổi. Khai Minh hỏi:

    – Ngươi là ai, từ đâu đến? Sao lại đột nhập biệt viện vào đêm hôm khuya khoắt thế này, nhất định không phải người tốt. Mau khai báo danh tính!

    Kẻ lùn không đáp, không biết có hiểu tiếng Khai Minh nói hay không? Đột nhiên hắn vung một quyền rất nặng tấn công chàng, Khai Minh thấy quyền thế mạnh bạo không hề tầm thường liền lập tức vận công đón đỡ, chàng dùng chiêu ‘Quang Minh chỉ pháp’ bắn vào quyền kình đang tới, phá đi công kích của đối thủ, kẻ lùn không ngờ đối thủ lợi hại như vậy, bị sức dội của chỉ pháp đẩy lùi ba bốn bước, gương mặt tỏ ra sợ hãi. Mái ngói chịu không nổi kình lực do va chạm của hai cao thủ liền bị tung lên, vỡ hơn mấy chục miếng, rơi xuống bên trong căn phòng. Bỗng có tiếng la lớn:

    – Tên khốn nào phá giấc ngủ của ta thế?

    Thì ra đây là phía trên phòng ngủ của Khai Phát, hai người đánh nhau làm mái ngói rơi xuống phòng làm mất giấc ngủ của chàng nên liền la lên, đoạn phi thân lên mái nhà.

    Vừa trông thấy Khai Minh và tên lùn, Khai Phát không nói không rằng vung chưởng lên tấn công tên lùn, kẻ đang tỏ ra sợ hãi, chợt Khai Minh lên tiếng:

    – Tiểu đệ, dừng tay! Xem ra hắn không có ác ý, hơn nữa hắn không phải đối thủ của chúng ta. Để ta nói chuyên với hắn.

    Khai Phát lùi lại thôi không tấn công tên lùn nữa, đoạn Khai Minh bước tới hỏi tên lùn:

    – Ngươi có hiểu tiếng chúng ta nói không? Nếu có thì hãy trả lời đi, bọn ta không hại ngươi đâu. Ta là Khai Minh, Trấn Quốc công của Ất Mộc, nếu ngươi có cần ta giúp gì thì cứ lên tiếng.

    Tên lùn nhìn Khai Minh một lượt rồi ánh mắt chuyển sang Khai Phát, thấy hai người trước mặt đều là thiếu niên anh tuấn, võ công cao cường, chính khí lẫm liệt nên sự sợ hãi từ từ giảm xuống. Chợt dưới sân có tiếng nói:

    – Các ngươi xuống đây!

    Thì ra Dược Vương Khương Bách đã mở cửa thư phòng bước ra từ khi nào. Tên lùn thấy Khương Bách thì mừng rỡ vội nhảy xuống và chạy tới quỳ xuống vái lạy lão, Dược Vương đỡ hắn đứng dậy và nói:

    – Tiểu Thông, thì ra là ngươi. Thảo nào ta cảm thấy khí tức rất quen thuộc. Thế nào, tộc nhân của ngươi vẫn ổn chứ?

    Khai Minh và Khai Phát nhìn nhau ngạc nhiên, hoá ra nghĩa phụ đã biết tên lùn này từ trước, dường như hắn cũng rất kính trọng nghĩa phụ, vừa nãy còn quỳ xuống chào ông ấy. Khai Phát nhanh miệng hỏi:

    – Nghĩa phụ, người biết hắn ta sao? Sao trước giờ con không thấy hắn đến đây?

    Khai Minh cũng đang nhìn Dược Vương đợi nghe câu trả lời. Dược Vương nói:

    – Các ngươi theo ta vào trong.

    Cả bốn cùng vào thư phòng Dược Vương. Sau khi yên vị, Dược Vương lên tiếng:

    – Tiểu Thông, hai người này là nghĩa tử của ta, Khai Minh và Khai Phát. Người lúc nãy so chiêu thức với ngươi là Khai Minh, Trấn Quốc công đương triều Ất Mộc Quốc, ngươi có việc gì cứ việc nói ra, chúng ta sẽ nghĩ cách giúp ngươi, ta biết hôm nay ngươi đến đây chắc có việc muốn cầu ta.

    Thì ra người lùn đột nhập hôm nay tên là Tiểu Thông, trưởng lão của tộc người lùn, tộc người này sinh sống ở Tùng Hoa Quốc đã hàng trăm năm nay, khi thịnh vượng dân số lên tới hàng vạn người, nhưng trải qua chiến tranh mất mát, hiện chỉ còn hơn trăm người sinh sống ẩn dật trong khu rừng nguyên sinh Vô Cực Sâm Lâm ở phía Bắc Tùng Hoa Quốc. Tộc người này sinh sống bằng việc đánh cá, săn thú, luyện thảo dược và nghiên cứu thuật trường sinh. Hơn trăm năm trước, tộc trưởng tiền nhiệm tên là Thạch Vọng sau nhiều năm miệt mài nghiên cứu y thuật, đã tạo ra được vô thượng thần dược ‘Trường Sinh Đơn’, giúp cải tử hồi sinh, cứu người chết sống lại. Phát minh này gây chấn động tam giới, khiến rất nhiều thế lực chú ý. Tuy Thạch Vọng căn dặn tộc nhân cố gắng giữ kín bí mật này, nhưng trong tộc có vài kẻ không phục y làm tộc trưởng, âm thầm cấu kết với Yêu giới, tiết lộ tin tức ra bên ngoài. Tin tức bị lộ khiến cho cuộc sống yên bình khép kín của tộc người lùn không thể duy trì được nữa, nhiều kẻ dã tâm đến từ Yêu giới và Ma giới liên tục dòm ngó Trường Sinh Đơn, nhiều lần tấn công bộ tộc của Thạch Vọng, khiến cho nhân lực càng lúc càng suy giảm, cho đến một hôm ngay cả Thạch Vọng cũng bị trọng thương sắp chết, y liền truyền lại bí phương chế tạo thần dược cho Thạch Hạo, người con trai độc nhất. Thạch Hạo thay cha giữ ngôi trưởng tộc, vừa chạy trốn kẻ thù, vừa bảo vệ tộc nhân, sau cùng hai mươi năm trước, cả tộc đang trên đường lẩn tránh sự truy sát của các thế lực từ Yêu giới và Ma giới, may mắn được Dược Vương Khương Bách – lúc này ông đang chu du Tùng Hoa Quốc để cứu người chữa bệnh – cứu sống cả tộc, sau đó ông đưa Thạch Hạo và tộc nhân ẩn cư trong Vô Cực Sâm Lâm cho tới ngày nay. Trước khi chia tay, ông còn dặn dò Thạch Hạo nếu tộc người lùn xảy ra chuyện gì, cứ sai người đến Ất Mộc tìm ông, nhất định ông sẽ ra tay tương trợ.

    – Tiểu nhân hôm nay đến đây, vì để tránh tai mắt kẻ địch, nên không dám công khai vào phủ mà phải lén lút chờ đêm tối để diện kiến Dược Vương, kể cả mở miệng nói chuyện cũng không dám. Tiểu Thông nói.

    – Bộ các ngươi gặp nạn gì hay sao? Khai Phát tò mò. – Đến cả nói chuyện cũng không dám.

    Chợt bên ngoài một mũi phi tiêu xé gió bay vút vào trong phòng, nhắm ngay thái dương của Tiểu Thông bay tới, Dược Vương dùng tay bắn ra một viên thuốc cản mũi phi tiêu, đoạn la lớn:

    – Có kẻ địch bên ngoài.

    Khai Minh phóng vút ra ngoài thì thấy một tên hắc y nhân đang phi thân phía trên mái nhà, nơi lúc nãy chàng và Tiểu Thông so chiêu, có vẻ hắn đang muốn bỏ chạy do đã bị phát hiện. Khai Minh bình sinh rất ghét kẻ đánh lén núp bóng che mặt, chàng vội vận công lực lên ba ngón tay, sử chiêu ‘Thiên Quang Kiếm Chỉ’, từ ba ngón trỏ, giữa, áp út đẩy ra ba luồng khí kình, mỗi luồng mang khí tức băng công, hoả công và lôi công đánh vào kẻ hắc y kia, kình lực nhanh mạnh phóng tới khiến không khí xung quanh như bị nén lại, gã hắc y không dám khinh suất, vận công thủ hộ cơ thể, tạo ra một vòng tròn hắc khí che kín toàn bộ các chỗ hiểm yếu. Ba luồng chân khí đánh ra từ Khai Minh chạm vào vòng hắc khí đều như sông đổ ra biển, hoà tan biến mất không để lại dấu vết, nhưng một phần dư kình bị dội ngược ra xung quanh, khiến chỗ trúng băng công thì cây lá rủ héo, chỗ trúng hoả công thì bốc cháy dữ dội, chỗ trúng lôi công thì như bị sét đánh trúng, phá sập luôn cả mái ngói trên phòng Khai Phát. Hắc y nhân mượn thế tung người bay lên, hoàn toàn không bị tổn hại gì, cất tiếng khen:

    – Hảo tiểu tử! Ba luồng kiếm chỉ quả nhiên lợi hại, quả nhiên anh hùng xuất thiếu niên, không thẹn là nghĩa tử Dược Vương. Hậu hội hữu kỳ.

    Vừa nãy khi Khai Minh so chiêu với Tiểu Thông thì chỉ làm vỡ vài miếng ngói lẻ tẻ, nhưng kiếm chỉ của chàng khi va chạm vòng tròn hắc khí của tên hắc y nhân đó thì khí kình làm tan hoang cả một khu vực, cho thấy kẻ sát thủ hôm nay không hề tầm thường, nếu Dược Vương không phản ứng nhanh lẹ thì e rằng tính mạng của người lùn Tiểu Thông đã không còn. Kẻ địch ngoài võ công lợi hại ra, dường như cũng có phong phạm của một bậc tông sư, xem ra Khai Minh đang bị một thế lực nào đó nhắm tới, từ lần hành thích trên đường từ Tùng Hoa về Ất Mộc, đến cuộc đụng độ đêm nay. Dược Vương nói:

    – Minh nhi, con xuống đây, ta có chuyện muốn nói.

    Sáng hôm sau, trời vừa tờ mờ sáng, cánh cửa biệt viện Dược Vương đã mở ra, ba bóng người đem theo hành lí và cưỡi ngựa lên đường, nhìn kĩ thì ra là Khai Minh, Khai Phát và Tiểu Thông, họ đang trên đường đi về hướng Tùng Hoa Quốc, xem ra đêm hôm trước Khương Bách đã tiết lộ bí mật gì đó và hôm nay ba người lên đường thực hiện kế hoạch đã bàn. Họ không đem theo quân lính hay hộ vệ, chỉ có ba người lặng lẽ cưỡi ngựa đi vì không muốn gây sự chú ý, chắc hẳn chuyện này có liên quan tới thần dược Trường Sinh Đơn.

    ******

    Trong khu rừng Thanh Lâm phía Tây Canh Kim Quốc, sương sớm còn chưa tan thì những tiếng vó ngựa và tiếng la hét đã xé toạc không gian. Cuồng Vương Hoàng Chung, đương kim quốc vương Canh Kim, đang dẫn đầu một đoàn thị vệ đi săn trong nắng sớm. Trên lưng ngựa là một vị vua cao lớn, tay cầm Xuyên Vân Tiễn, thân vận chiến giáp, gương mặt nghiêm trang. Bộ giáp bạc của ông hằn rõ những vết tích trận mạc, ánh mắt vẫn sáng như lôi điện giữa trời giông.

    Bỗng trong rừng có tiếng sột soạt, thì ra là một con nai sừng tấm lớn, nó phóng như bay trước hàng loạt mũi tên của đội săn. Liên tục các tướng quân trong đội xạ tiễn nhưng đều không trúng nó, dường như con vật này có linh tính. Hoàng Chung im lặng quan sát con vật di chuyển né tránh giữa rừng mũi tên thì thấy xung quanh nó dường như có lớp khí lực bao phủ, nếu mũi tên gần chạm được nó lập tức bị đổi hướng. Xem ra không phải do thân pháp của con nai quá nhanh, mà do lớp khí tức bảo vệ thân thể nó làm các mũi tên không thể đi trúng đích. Lão vua già thầm nghĩ:

    – Không lẽ đây là thần thú Tinh Hà Vũ Ly trong truyền thuyết? Nhìn kĩ thì có vẻ giống thật, nó có màu tím nhạt huyền bí, bao bọc quanh cơ thể là một lớp hàn khí trong suốt, lại còn lung linh như những vì sao, trên sừng có những dải dài bay phất phơ trong gió, đích thị là con vật huyền thoại đó rồi. Xem ra không dùng tới Xuyên Vân Tiễn có lẽ không thể thu phục nó được.

    Đoạn Hoàng Chung hét lớn, vận nội lực giương cao cánh cung chuẩn bị phóng ra Xuyên Vân Tiễn, mũi tên tỏa ra hỏa khí nóng rực bốn phía, các thị vệ đứng cạnh đó chịu không nổi nhiệt lượng liền lùi lại đằng sau, không dám diên trì thêm. Cần biết rằng Xuyên Vân Tiễn là một trong các thần khí thượng cổ, năm xưa trong đại chiến Thần – Ma – Yêu – Nhân đã được Thiên Đế sử dụng để tiêu diệt Yêu quân, thần tiễn mang tính hỏa, khi phóng ra cần một người có công lực cực cao, nội lực không đủ sẽ bị phản phệ thiêu đốt mà chết, thần tiễn có sức công phá rất lớn, có thể đốt cháy hàng ngàn quân địch một khi rời khỏi cánh cung. Bỗng có tiếng nói cất lên:

    – Hoàng thượng tam tư! Xuyên Vân Tiễn có sức mạnh rất lớn, nếu người dùng nó tấn công con thú kia, chỉ e cả khu rừng này sẽ bị đốt cháy mất. Đất Canh Kim của chúng ta ở gần sa mạc, quanh năm khô nóng, chỉ có khu rừng Thanh Lâm này giúp duy trì một chút không khí mát mẻ thưa ngài.

    Người nói là Mạnh Đạt, tướng quân Canh Kim, một vị đại thần trung quân ái quốc. Hoàng Chung im lặng không đáp, ánh mắt ông chỉ kiên định nhìn về hướng con thần thú kia, dường như nó đang thách thức ông bắn trúng được nó. Cuồng Vương bá khí dâng lên, xem ra đã chấp nhận sự thách thức của Tinh Hà Vũ Ly. Ông vận nội công truyền qua Xuyên Vân Tiễn, mũi tên tỏa ra hỏa lực cực mạnh chuẩn bị phóng về phía con vật. Con Nai thần có vẻ cảm nhận được sự nguy hiểm nên liền dậm chân lấy đà, hàn khí toát ra tạo thành tấm khiên che chắn phía trước cơ thể, sẵn sàng nghênh chiến. Hoàng Chung hét lớn:

    – Hãy đỡ!

    Đoạn ông bắn Xuyên Vân Tiễn nhắm vào con nai, mũi tên đỏ rực như ngọn đuốc đang cháy bay về phía con vật, Tinh Hà Vũ Ly không hề nao núng, cúi đầu đẩy tấm khiên hàn băng ra đón đỡ mũi tên, một bên lửa, một bên băng va chạm tạo ra tiếng nổ lớn làm đổ rạp hàng loạt cây cổ thụ trong rừng. Tiếp theo đó, con Nai thần há miệng phun ra một luồng khí băng cực lạnh bao phủ toàn bộ Xuyên Vân Tiễn khiến ngọn lửa tắt ngúm, mũi tên không còn hỏa lực liền rớt xuống đất, Tinh Hà Vũ Ly ngẩng đầu nhìn Hoàng Chung, nở nụ cười rồi nói:

    – Cuồng Vương Hoàng Chung không thẹn là một trong tứ đại thiên vương năm xưa, nhưng chỉ bấy nhiêu đó chưa đủ để làm phiền ta.

    Nói xong nó phun ra một làn sương mở rồi biến mất không để lại dấu vết. Lão quốc vương Canh Kim không kịp phản ứng, ông chỉ biết tặc lưỡi tiếc nuối:

    – Luôn cả Xuyên Vân Tiễn cũng không thu phục được nó, nhất định ta sẽ tìm và bắt được ngươi. Chờ đấy!

    Mạnh Đạt thúc ngựa tiến lại gần và hỏi:

    – Bệ hạ, con Nai đó nói được tiếng người ư? Vậy nó chính là con thần thú huyền thoại mấy trăm năm nay của Canh Kim Quốc chúng ta rồi, thật sự nó có tồn tại chứ không phải lời đồn.

    – Đúng vậy! Hôm nay chúng ta may mắn gặp được nó, cả ta cũng chỉ nghe kể lại thôi. Không ngờ nó lợi hại như vậy, lại mang thuộc tính băng hàn, khắc tinh của Xuyên Vân Tiễn.

    Hai người đang trò chuyện thi bỗng nhiên có tiếng cười lớn phía sau lưng:

    – Hoàng Chung ơi, ngươi đã già rồi, đã đến lúc thoái vị nhường ngôi!

    Có kẻ cả gan lớn mật dám kêu thẳng tên của hoàng thượng Canh Kim, thật ra là kẻ nào?

  • Tại chân núi Linh Cương ngoại thành Canh Kim Quốc, nơi núi đá khô cằn trập trùng như sống lưng rồng hóa thạch đan xen nhau trông rất hùng vĩ, hàng loạt tiếng sấm chớp dội vang không ngớt, dù bầu trời quang đãng không mây. Giữa không gian rộng lớn toàn núi với núi, nhiều tiếng nổ lớn vang lên từng hồi, thì ra có một người đàn ông to cao đang luyện công tại đây. Người này chính là Hoàng Chung, quốc vương Canh Kim Quốc, thân vận giáp bạc, tay cầm Cự Phủ đang liên tục chém vào các ngọn núi để luyện ngoại công. Ông là một trong ngũ vương của ngũ đại quốc, vừa dự hội nghị bầu tân Chủ tịch của Hội đồng Thế giới ở Ất Mộc Quốc trở về. Hoàng Chung đam mê võ công hơn bất cứ thứ gì trên đời, khi nào bớt việc quốc sự ông liền đến núi Linh Cương này, tự mình tu luyện ngoại gia công phu, ông nổi tiếng Nhân giới với ngoại công đệ nhất, năm xưa từng cùng các vị vương khác liên thủ chống lại sự xâm lược của Yêu giới. Ông dậm chân một bước, lùi lại đứng tấn thủ thế, sau đó tung quyền.

    – Kim Cương Phá Sơn!

    Một cú quyền kình phát ra, khí kình cuồn cuộn như dời núi lấp sông, từ phía trên đánh xuống. Tiếp tục một cú đấm chéo từ tay trái phát ra, mạnh mẽ như một ngọn núi đổ tới, lực quyền mang theo sức nặng ngàn cân, xuyên phá từ phía dưới lên, khiến tảng đá lớn trước mặt ông không chịu nổi sức ép trên dưới cùng lúc, nổ tung thành hàng nghìn mảnh, cát bụi bốc lên mù mịt, che mờ cả một khu vực rộng lớn, đủ thấy sức mạnh chí cương chí dương của quyền pháp này. Hoàng Chung trầm ngâm nhìn tảng đá lớn trước mặt rồi tặc lưỡi:

    – Hừm! Quyền kình này chưa đủ, xem ra ta đã già thật rồi, mới đánh một đòn mà cơ thể đã phản phệ, nhớ năm xưa… Ông đang hồi tưởng về chuyện gì đó thì từ xa có một thị vệ chạy tới quỳ gối, tay dâng lên một phong thư:

    – Bẩm Hoàng thượng! Có thư mật từ hướng Đông!

    Hoàng Chung nhận lấy, không nói một lời. Tay mở niêm phong, ánh mắt chỉ đảo qua bức thư một lượt nhưng khí sắc trên mặt ông đã thay đổi. Bức thư được viết trên giấy lụa mỏng, chỉ ghi vỏn vẹn vài dòng:

    – Thưa Ngài, bọn họ đã bắt đầu hành động. Mong Ngài lưu tâm, hết sức thận trọng, kế hoạch của chúng ta không thể thất bại, thời khắc đó… sắp tới rồi. Mong sớm gặp lại Ngài!

    Bức thư không hề ký tên hay danh tính, nhưng Hoàng Chung vẫn nhận ra nét chữ của cố nhân năm xưa, miệng ông lẩm bẩm điều gì đó, đôi mắt ánh lên một tia xúc động thoáng qua:

    – Là ông ấy! Nếu vẫn còn sống thì sẽ sớm gặp lại thôi, bạn già!

    Người đề thư là ai vẫn chưa rõ, nhưng có vẻ là người quen cũ của Hoàng Chung, bức thư có nội dung cảnh báo thời khắc trọng đại sắp tới, không quên nhắc lại kế hoạch đã được vạch ra từ trước, chưa biết chừng có liên quan tới thời khắc mà Khai Minh đã nghe trong giấc mơ mấy hôm trước không, nhưng có điều chắc chắn là các thế lực đã bắt đầu hành động. Hoàng Chung nói với thị vệ:

    – Nào cậu bé, ngươi là tân binh đúng không? Haha, cùng ta đi uống rượu nào!

    Nói xong lão cầm tay tên thị vệ lôi đi trong ánh mắt ngạc nhiên của hắn. Một vị quân vương gần gũi như thế, có thể khoác vai thị vệ cùng nhau đi uống rượu, như một vị cha già mời mọc con cháu của mình.

    ******

    Sáng sớm trong ngự hoa viên, hoàng cung Ất Mộc, ánh nắng vừa chạm đến những cánh hoa trà đầu mùa thì bên dưới tán liễu to nặng đang rủ xuống, hai vị công chúa đang ngồi trò chuyện bên bàn đá rồng được bày biện trong khuôn viên, chén trà còn nghi ngút khói. Một người thanh tú, xinh đẹp tuyệt trần, thần thái thoát tục cao quý, thanh nhã như sương mai là nhị công chúa Thiên Diệp. Một người rực rỡ, sắc sảo, nét đẹp thu hút, chính là Di Hoa, trưởng công chúa của Ất Mộc. Cạnh bên Thiên Diệp là tỳ nữ Như Yên, cô gái có đôi mắt to tròn trong sáng, hôm trước cùng Thiên Diệp đến thăm Khai Minh, cô ấy đang rót trà cho hai vị công chúa. Sau lưng Di Hoa là Kim Linh, đôi mắt sắc bén, gương mặt không lộ chút cảm xúc nào, lặng lẽ đứng hầu chủ tử.

    – Muội dạo gần đây có vẻ rất vui. Di Hoa nhấp một ngụm trà, vừa uống vừa khen Thiên Diệp. – Chắc là vì sắp được gả cho một vị anh hùng đệ nhất thiên hạ, Quốc công gia Khai Minh?

    Thiên Diệp mỉm cười, không nói. Bên cạnh, Như Yên khẽ che miệng, ánh mắt trêu ghẹo:

    – Từ ngày được bệ hạ ban hôn đến giờ, công chúa nhà ta cứ tủm tỉm cười một mình suốt đấy thưa đại công chúa!

    – Nha đầu câm miệng! Thiên Diệp giả vờ mắng yêu Như Yên, gò má ửng hồng.

    Di Hoa khẽ cười, nhưng trong câu nói có pha chút tỵ hiềm:

    – Thật tốt quá, ta thật mừng cho muội… Muội từ nhỏ đã được tất cả yêu thương. Dù không phải con trưởng, nhưng lại được phụ hoàng đặc biệt sủng ái. Nay còn được gả cho người khiến bao nữ tử mộng mơ, ta cảm thấy có chút ghen tỵ với muội đó.

    Kim Linh, nha hoàn thân cận của Di Hoa, tay rót thêm trà cho chủ nhân, ánh mắt không rời khỏi Thiên Diệp, như đang dò xét điều gì đó từ nhị công chúa. Thiên Diệp khẽ lắc đầu, đáp lời Di Hoa:

    – Tỷ tỷ nói vậy khiến muội áy náy. Dù sao cũng là ý chỉ phụ hoàng, muội chỉ thuận theo mà thôi. Có điều thật sự là cũng vừa hay đúng với ý muội nên từ hôm đó tới giờ trong lòng muội cảm thấy rất vui. Còn tỷ tỷ sắc nước hương trời, hiểu ý người khác, sau này chắc chắn sẽ tìm được đức lang quân phù hợp thôi mà.

    – Tỷ cũng muốn thuận theo như muội, haha, nhưng chưa có cơ hội được phụ hoàng ban hôn. Tiếc là… tiếc là… người đó lại không thèm để ý ta, hắn chỉ quan tâm đến muôi.

    Không khí chợt chùng xuống. Như Yên khẽ biến sắc, Kim Linh thì như vừa mỉm cười.

    – Đại tỷ nói hắn là ai thế? Thiên Diệp chậm rãi hỏi, ánh mắt vô cùng bối rối, không biết Di Hoa đang đề cập đến người nào. Trước giờ nàng vốn rất kính trọng vị tỷ tỷ này. Thiên Diệp hồi hộp chờ đợi câu trả lời nhưng đột nhiên Di Hoa đứng dậy, tay vuốt nhẹ vạt áo đang vươn dài dưới nền đất:

    – Hảo muội tử, đừng để tâm mấy câu nói vu vơ của ta, chỉ là thấy muội đang lâng lâng hạnh phúc nên ta trêu chọc vậy thôi. Thôi, cũng đã đến giờ ta đi thăm mộ mẫu hậu rồi, hẹn muội hôm khác trò chuyện tiếp nhé.

    Di Hoa và Kim Linh rời đi trong sự ngạc nhiên của Thiên Diệp, nàng vẫn không tin là tỷ tỷ nói đùa, câu nói vừa rồi dường như ám chỉ người nào đó có liên quan đến hai chị em, nhưng nàng không biết hắn là ai, tỷ tỷ lại úp mở không thổ lộ. Thiên Diệp và Như Yên cũng không hỏi thêm, dắt tay nhau trở về cung.

    ******

    Bên trong Hàn Nguyệt điện ở Quý Thủy Quốc, Lam Ảnh đang mở tiệc thiết đãi đoàn sứ giả của Huyễn Quốc, mọi người nâng ly vui vẻ, ai cũng cạn chén. Lam Ảnh hỏi Thái sư Huyễn Quốc, Âu Dương Nam:

    – Trưởng sứ, ta có một thắc mắc, các vị vốn đến từ Đông Nam lục địa, sao lại vận trang phục của dân biên cương vùng Tây Bắc? Có điều chi khác thường hay sao?

    Âu Dương Nam tự tin đáp:

    – Bệ hạ có điều chưa tường, vốn mỗi khi tệ quốc xuất sứ đi đâu đó thì đều sử dụng trang phục của xứ đó để tránh tai mắt kẻ địch dòm ngó, với lại sẽ làm cho cư dân bản địa có thiện cảm hơn, nếu chẳng may có xảy ra chuyện gì thì cũng có thể nhờ họ giúp đỡ!

    Lam Ảnh tặc lưỡi mỉm cười:

    – Không thẹn là dân tộc tỉ mỉ, thần bí nhất Nhân giới, hôm nay nghe khanh nói, trẫm học thêm được một kiến thức thú vị. Thôi nào, chúng ta cùng cạn chén, xin cho ta gửi lời hỏi thăm đến Mễ thượng, khi nào sắp xếp được, trẫm sẽ tới thăm quý quốc một chuyến, mong Thái sư chuyển lời giúp.

    – Thần thay mặt quân thượng tệ quốc, vui mừng cảm tạ lời chúc của bệ hạ, thật vinh hạnh khi được bệ hạ dời gót ngọc đến Huyễn Quốc một chuyến.

    Những lời nói hoa mĩ không che đi được tham vọng của hai kẻ đang chúc tụng nhau, nếu quả thật Quý Thủy lôi kéo được thêm một đồng minh mạnh mẽ như Huyễn Quốc thì đại kế của Lam Ảnh và Bạch Tinh không còn khó thực hiện nữa rồi.

    ******

    Trong khi đó tại biệt viện Dược Vương, ngoại ô Thái Dương Thành, cha con Khai Minh đang vừa đi dạo vườn hoa vừa trò chuyện. Khai Minh đã kể hết hai giấc mơ cho nghĩa phụ Khương Bách nghe. Dược Vương vuốt chòm râu dài tới ngực, ánh mắt nhắm nghiền, vừa đi vừa suy nghĩ. Đột nhiên Khai Phát chạy tới nói:

    – Nghĩa phụ, đại ca, đệ vừa gặp một chuyện rất lạ, không biết phải làm sao nên vội chạy đến đây cấp báo.

    – Là chuyện gì? đệ bình tĩnh, từ từ kể. Khai Minh hỏi.

    – Vừa nãy đệ đang quét dọn sau dược phòng, bỗng thấy một bóng người kì lạ chạy ngang cánh cửa phía sau, đệ vội chạy theo xem là ai thì kẻ đó đã mất hút, đệ chỉ thoáng thấy dáng người hắn trông rất lùn, nhưng có điều thân pháp quá nhanh nên không thể nhìn rõ.

    Dược Vương cả kinh biến sắc, vận khí một cái đã vọt tuốt lên mái ngói của sảnh trung tâm, ông đứng từ trên cao quan sát toàn bộ khuôn viên xem kẻ lạ mặt còn lai vãng hay không, nhưng nhìn kĩ một hồi thì không thấy kẻ khả nghi nào. Ông liền nhảy trở xuống hoa viên. Khai Minh vội chạy tới hỏi:

    – Nghĩa phụ, có chuyện gì thế? Sao người có vẻ khẩn trương như vậy. Kẻ lạ mặt đó là ai? Người có biết gì về hắn không?

    Khương Bách trầm ngâm không đáp, nét mặt thể hiện vẻ lo sợ bất thường, trước nay Khai Minh chưa từng thấy nghĩa phụ như vậy. Ông lủi thủi đi về phòng, quay lưng lại nói:

    – Hai con cứ dùng cơm, không cần đợi ta, ta có chuyện cần suy nghĩ, cũng đừng quấy rầy ta, đêm nay ta cần sự yên tĩnh tuyệt đối!

    Hai huynh đệ mắt tròn mắt dẹt chưa hiểu nguyên nhân, chỉ thấy nghĩa phụ làm ra vẻ quan trọng, khác hẳn phong thái điềm đạm tiêu dao hàng ngày. Khai Phát hỏi:

    – Đại ca, sao nghĩa phụ khác thường vậy? Có điều gì đáng lo không? Sao đệ có cảm giác bất an, kẻ lúc nãy thân pháp quá nhanh, chắc cũng không hề tầm thường, liệu đêm nay có bình yên không?

    – Đệ đừng quá lo, biệt viện chúng ta cao thủ như mây, nghĩa phụ và đệ cũng là hàng nhất đẳng, để ta dặn dò đội thân binh tăng cường canh gác, phòng khi có biến, ta cũng không chắc tên đó có thật sự rời đi hay chưa. Đêm nay e rằng biệt viện Dược Vương sẽ là một đêm rất dài, có kẻ lạ mặt đột nhập nhưng chưa rõ hành tung của hắn, Khương Bách lại rỏ ra lo lắng một cách kì lạ, xem ra ông đã lờ mờ đoán ra được lai lịch của kẻ đột nhập, nhưng dường như chưa chắc chắn nên tạm thời đóng cửa phòng nghiền ngẫm điều gì đó. Liệu thời khắc đó đang đến hay là một sát thủ trong nhóm Mười Hai Con Giáp của Bạch Tinh đến hành thích Khai Minh? Chúng ta cùng nín thở chờ đợi nhé!

  • Đã một ngày trôi qua sau buổi chầu đầy biến cố, Thanh Khôi trở về nhà, một biệt phủ rộng lớn được ban cho cha chàng trước đây, Thái sư Thanh Phủ, trên có đề ba chữ: Phủ Thái sư. Thanh Khôi nhiều lần muốn dọn ra ở riêng với mẹ, nhưng mẹ chàng không nỡ rời xa lão Thái sư, vì trước đó họ có một chuyện tình rất cảm động, hồi sau sẽ rõ.

    Trời chưa kịp sáng hẳn, sương đã buông dày như tơ liễu, từng giọt li ti đọng trên những tán lá của các cây cổ thụ trong vườn hoa viên, đọng trên lá sen trong hồ cá lớn, nhìn cảnh rất nên thơ và lãng mạn. Trong thư phòng lát toàn gỗ trầm hương, xông lên mũi mùi thơm đặc trưng của loại gỗ quý được vận chuyển từ Ngọc Phong Quốc về, Thanh Khôi đang đứng im lặng trước án thư, ngón tay miết nhẹ lên bản đồ biên giới, trong lòng chàng đang chất chứa rất nhiều tâm sự nhưng không thể tìm được người giải bày. Vốn trước giờ chàng đã quen độc lai độc vãng, cha là Thái sư, chàng là Tể tướng nhưng bản thân chàng không thích có nhiều mối quan hệ, vì đối với chàng không có chuyện gì qua loa, mỗi người bạn đều phải xứng tầm với chàng. Các quan lại dưới quyền rất muốn lấy lòng chàng, nào là quà cáp, nào là xin được gặp nhưng chàng đều từ chối thẳng thừng, có lẽ trong con người này có nội hàm rất sâu xa mà chưa tìm được tri kỉ để thấu hiểu.

    Sau lưng chàng là ba người đang ngồi trên ghế gỗ hương: phụ thân chàng, Thái Sư Thanh Phủ, râu tóc đều đã bạc, nét mặt điềm tĩnh nhưng cương nghị, bên trái là đại phu nhân Phùng Hạnh, áo lụa tím sẫm, giọng nói nhỏ nhẹ, xinh đẹp sắc sảo, bên phải là Thanh Khang, bào đệ cùng cha khác mẹ, trước nay đều rất ghét Thanh Khôi và coi thường vì chàng là con của nhị phòng, đợi chàng có sơ hở là hắn liền châm chọc không chút nương tình.

    – Huynh trưởng tài giỏi như thế, sao cuối cùng lại thất bại trong cuộc đua ghế Phò mã, há chẳng phải là thành sự bất túc, bại sự hữu dư hay sao? Cái gì mà thanh mai trúc mã, cùng nhau lớn lên, hóa ra công chúa từ lâu đã có ý trung nhân, càng tệ hơn là tân Phò mã vừa lập được đại công nơi chiến trường, huynh lấy gì ra để so sánh với người ta đây?

    Nhị đệ Thanh Khang này trước nay quen được nuông chiều, ỷ lại có cha làm quan to nhất phẩm thì hống hách không xem ai ra gì, trêu hoa ghẹo nguyệt, chơi đùa ong bướm khắp kinh thành, nhiều lần gây sự với người khác, nhưng nhờ gia thế cây đa cây đề nên không bị trả thù. Mẹ y, đại phu nhân Phùng Hạnh vốn là trưởng công chúa Ất Mộc nên Thanh Khang tác oai tác quái cả một vùng không kiêng kỵ. Tuy vậy nhưng y không chăm chỉ học hành thi cử nên không kiêm giữ chức tước gì trong triều, so thần thái, thông minh, anh tuấn hay khí độ đều chỉ đáng xách dép cho đại ca Thanh Khôi. Lão Thái sư tuy biết mọi chuyện nhưng hiềm một nỗi vợ cả là đại công chúa, lại cưng chiều Thanh Khang hết mực nên ông cũng không tiện làm căng.

    – Khang nhi! Không được vô lễ, đại ca con nhiều khi có tính toán khác không chừng, với cái đầu lợi hại như Khôi nhi thì chúng ta không đoán được nó đang nghĩ gì đâu, phải không Khôi nhi? Phùng Hạnh bề ngoài mắng con nhưng từng lời nói đều là đá xéo Thanh Khôi, nét mặt lại không hề che giấu vẻ hả hê. Đúng là mẹ nào con nấy, cùng một giuộc như nhau.

    – Đủ rồi, các ngươi ồn ào quá, chuyện quốc gia đại sự, quyết định của thánh thượng, các ngươi có thể bình phẩm bừa bãi hay sao. Lão Thái sư nghiêm giọng quát, bầu không khí nhất thời trở nên căng thẳng.

    Thanh Khôi quay lại, gương mặt không hề lộ ra cảm xúc, ánh mắt sâu xa nhìn về phía phụ thân:

    – Thưa cha, hài nhi có chuyện muốn mời cha vào thư phòng để bẩm thưa!

    Lão Thái sư thoáng nhìn thần sắc nghiêm nghị của con trai trưởng, bèn nói:

    – Hai người ở đây từ từ dùng trà, lát nữa ta quay lại. Vừa nói ông vừa nhìn mẹ con Phùng Hạnh.

    Đại phu nhân mặt lạnh tạnh đáp:

    – Cha con hai người cứ tự nhiên, chúng tôi không dám quấy rầy đâu!

    Thanh Khang cũng xen vào:

    – Cha và đại ca cứ bàn quốc gia đại sự, con và mẹ nghe cũng không hiểu gì đâu! Hahaha, vừa nói hắn vừa cười cợt mỉa mai, như xát thêm muối vào vết thương của đại ca cùng cha khác mẹ này.

    ******

    Tại Quý Thủy Quốc, gió phương Bắc thổi qua những hành lang bằng đá đen, mang theo mùi sương lạnh và mùi không khí hắc ám bao trùm xung quanh Huyền Băng Thành, kinh đô của đất nước. Trong Hàn Nguyệt điện phủ rêu cổ kính của Lam Ảnh, một đoàn sứ giả từ phương xa tiến vào, đoàn khoảng hơn mười người ăn vận lạ mắt, dường như đến từ biên cương Tây Bắc. Đi đầu là một người đàn ông trung niên vận trường bào màu chàm, mặt không râu, mắt nheo nhỏ, dáng cao lớn, gương mặt góc cạnh và tỏa ra khí tức mạnh mẽ, bọn thái giám và thị vệ đứng gần đó đều bị khí kình làm cho té ngã. Điều đó khiến cho Lam Ảnh chú ý, y vội giơ tay đẩy ra một luồng khí vô hình nhưng lạnh lẽo thấu xương hướng về luồng khí kình đó, hai kình lực va chạm vang lên tiếng nổ lớn gây chấn động Hàn Nguyệt điện. Những kẻ đi cùng đoàn sứ giả cũng bị sức dội của chưởng phong làm cho ngã ngửa, nằm la liệt trên sàn, đồ lễ cống phẩm rơi ra văng khắp điện, cảnh tượng trông thật tức cười. Tên trưởng đoàn vội mắng:

    – Các ngươi thiệt là làm mất mặt, còn không mau dọn dẹp và đứng lên ngay ngắn cho ta!

    Đoạn hắn quay sang cúi đầu hành lễ trước Lam Ảnh, tay dâng lên một hộp ngọc đen phủ bằng lụa nhung màu đỏ sẫm.

    – Thần là Âu Dương Nam, Thái sư Huyễn Quốc, phụng mệnh vương thượng Mễ Trí, mang lễ vật và quốc thư đến dâng lên Lam thượng. Bệ hạ võ công cái thế, lúc nãy thần múa rìu qua mắt thợ, xin bệ hạ rộng lượng dung thứ!

    Lam Ảnh ngồi nơi ngai vàng trên cao, mặc lam bào thêu hình rồng vàng, đầu đội vương miện đính ngọc trai phương Bắc, gương mặt lãnh đạm, dửng dưng nói:

    – Trẫm nghe nói Huyễn Quốc hàng trăm năm qua không bước chân ra khỏi màn sương của mình, hành tung bí ẩn, hành sự cẩn mật. Hôm nay các vị lại vượt ngàn dặm xa xôi đến đây, trẫm nghĩ hẳn là có chuyện lớn.

    Huyễn Quốc là một trong bốn quốc gia trung lập của Nhân giới, tọa lạc ở vùng Đông Nam của Ất Mộc, giáp biển và bao gồm vô số các đảo nhỏ, hình thành nên một quốc gia được bao bọc bởi huyễn thuật và thuật dịch dung. Người dân Huyễn Quốc rất tinh thông hai chú thuật này, họ dùng chúng để hành tẩu giang hồ. Huyễn thuật là việc sử dụng những kỹ thuật, phương pháp hoặc nghi lễ bí ẩn để gây hại cho người khác, thao túng tâm trí, hoặc đạt được mục đích cá nhân bằng tà thuật hay bùa chú cổ, tạo ảo giác cho người xung quanh khi bị thi triển lên người. Thuật dịch dung là khả năng thay đổi diện mạo để giả dạng người khác nhằm chiếm đoạt thân phận, lừa gạt và phá hoại hoặc để thực hiện âm mưu nào đó. Khắp lục địa rất ái ngại quốc gia này vì hành tung bí ẩn và bùa chú lợi hại của họ. Hơn hai mươi năm trước có tin đồn nữ nhân của Huyễn Quốc rất xinh đẹp và trắng trẻo, thế là nhiều cánh đàn ông tự xưng đại hiệp trên khắp giang hồ kéo đến vì tò mò và cũng có kẻ đi…tìm vợ, nhưng sau đó không có bất cứ một ai trở về, người ta đồn là họ đã chết một cách thần bí sau màn sương dày đặc che phủ quốc gia này.

    Âu Dương Nam cười nhẹ, ánh mắt sắc lạnh cúi đầu đáp lời:

    – Chúng thần vốn chọn cuộc sống an nhàn lánh đời, hàng trăm năm qua nhờ vào lớp sương mù dày đặc của núi Vô Nhai và rừng Thông Nguyên che chắn, không cho thế lực bên ngoài xâm chiếm, người dân an cư lạc nghiệp mà hưởng thái bình. Nhưng ba hôm trước, Đại Tế tư của tệ quốc quan sát thiên văn, tính toán thiên tượng, nhận ra được điềm báo đại kiếp sắp tới, vương thượng Mễ Trí lập tức họp bàn và quyết định phái thần đi sứ Quý Thủy, dâng quốc thư lên bệ hạ. Vương thượng biết trong số các vị vua khắp lục địa hiện nay, chỉ có bệ hạ xứng danh minh vương sáng suốt, nên thần không ngại vượt ngàn dặm xa xôi đến đây triều bái, dâng thêm nhiều lễ vật ra mắt bệ hạ!

    Lam Ảnh trầm ngâm không đáp. Hắn mở hộp ngọc, bên trong là một tấm thếp vàng trên có đề ghi: Quốc thư Mễ Trí kính dâng! Hắn đọc lướt qua một lượt rồi tiện tay xé luôn bức thư, đoạn nói với Âu Dương Nam:

    – Ta đã hiểu lai ý của vương thượng các ngươi, các vị đi đường xa đã mỏi mệt, ta đã căn dặn các thái giám và cung nữ chuẩn bị nơi nghỉ ngơi cho cả đoàn sứ, mời các vị vào trong, tối nay ta sẽ thiết yến đãi tiệc, tẩy trần cho các vị!

    Thái sư Huyễn Quốc cúi đầu cung kính:

    – Đa tạ bệ hạ, chúng thần cáo lui!

    Đoàn sứ vừa đi, Lam Ảnh nở nụ cười nham hiểm, ánh mắt không giấu được sự đắc ý, không rõ trong bức thư của Mễ Trí đã viết gì, nhưng có vẻ đã làm cho một kẻ lạnh lùng, giỏi che giấu cảm xúc như vị vua Quý Thủy này cũng phải vui vẻ.

    ******

    Trọng khi đó tại Thái Dương Thành, biệt viện Dược Vương, một đêm tối tĩnh mịch và yên ắng, chỉ có tiếng côn trùng kêu bên ngoài. Khai Minh đang chìm trong giấc ngủ sau bữa tiệc liên hoan mừng công hôm trước trong cung. Chàng lại nằm mơ và lần này cũng thấy hai người. Một người chính là ông lão áo trắng lần trước, râu tóc bạc phơ, cưỡi mây ngũ sắc, lưng đeo trường kiếm, tay cầm phất trần. Người còn lại thì không phải kẻ đã cưỡi hoàng kim thần ngưu, mà là một lão nhân vận hắc bào, gương mặt tà ác nghiêm nghị, dáng người cao lớn nhưng chàng cũng không nhìn rõ mặt, khí tức quỷ dị tỏa ra làm Khai Minh như nghẹt thở. Trong một không gian không có khái niệm về ánh sáng, cũng không tồn tại bóng tối, chỉ là vô tận hư vô, nơi thời gian như ngừng trôi, lão nhân áo trắng nói:

    – Thời gian thắm thoát, mới đó mà kì hạn cho đại kiếp lần thứ ba đã đến gần, mọi việc hãy còn quá sớm, nguyên liệu cho món ăn vẫn chưa đủ. Có vẻ như ngươi đã quá gấp gáp rồi!

    Lão nhân hắc bào tiếng nói vang vọng ù tai đáp lại:

    – Ngươi nói không sai, haha, nhưng khi thời cơ chín muồi, bọn chúng tự khắc sẽ xuất hiện, còn rất mạnh mẽ và thú vị nữa là khác, haha!

    Hắn vừa nói vừa cười, dường như là mọi chuyện đều đã nằm trong sự sắp đặt của hắn. Lão nhân bạch y tay vuốt râu, vầng trán cao nhăn lại, lão nói:

    – Hai lần trước đã quá đủ rồi, các ngươi vẫn còn muốn chuyện đó xảy ra thêm lần nữa hay sao? Ta thật không dám nghĩ tới hậu quả.

    – Chuyện này vốn dĩ không liên quan tới ngươi, chẳng qua tên khốn kiếp đó muốn vượt qua ta, nếu như hắn thích thì ta sẵn sàng chiều ý hắn. Hắc bào lão nhân đáp. Bạch y lão nhân lại nói:

    – Ta đã đến khuyên hắn ba lần nhưng hắn cố chấp không nghe, còn đóng cửa miễn tiếp khách. Ta cũng chỉ còn biết đến gặp ngươi.

    – Ta khuyên ngươi hãy khoanh tay ngồi nhìn, chuyện giữa ta và hắn không thể chỉ giải quyết bằng lời nói, thiên mệnh đã định, chúng ta không thể làm khác. Hắc bào lão nhân kiên quyết.

    Không khí bỗng trở nên trầm lắng, cả hai đều nhất thời im lặng không nói thêm lời nào. Khai Minh nghe hai người nói chuyện nhưng chàng không hiểu gì cả. Bỗng bạch y lão nhân lên tiếng:

    – Thôi được rồi, vậy thì để vận mệnh quyết định số phận của tam giới, ta sẽ thuận thiên mà làm, không can dự chuyện giữa hai ngươi, nhưng nếu nó vượt quá lằn ranh đỏ, ta sẽ không đứng nhìn, ngươi hãy nhớ lấy!

    – Haha, ta vốn biết thiện tâm của ngươi, có điều ngươi đừng nói trước chuyện gì, khi đại kiếp đến, sẽ rất nhộn nhịp đấy! Cáo từ. Hahaha. Hắc bào lão nhân nói xong, cười một tràng dài và hóa khói đen biến mất.

    Lão tiên nhân cưỡi mây ngũ sắc trầm ngâm hồi lâu, đoạn quay sang nói với Khai Minh:

    – Ngươi đã gặp ta hai lần, đúng không nào!? Ngươi đã được nghe ta nói chuyện, hãy ghi nhớ trong lòng, vì khi thời khắc đó tới, ngươi sẽ cần ta hỗ trợ rất nhiều, chàng trai trẻ! Còn bây giờ thì tạm biệt…

    Không gian hư ảo vỡ vụn, vang bên tai Khai Minh tiếng kêu meo meo, chàng giật mình thức giấc, thì ra là con thần thú Tiểu Miêu của nghĩa phụ Khương Bách đang trèo lên giường chàng, nó đang dùng lưỡi liếm tai và má của chàng, như một hành động đánh thức chủ nhân. Khai Minh lấy tay xoa đầu nó và nói:

    – Nào nào, ta biết ngươi gọi ta dậy ăn sáng, đợi ta rửa mặt đã nhé, mèo con! Tiểu Miêu nhắm nghiền hai mắt và tựa đầu vào tay chàng, dường như nó đang cảm thấy ấm áp và được thương yêu từ chủ của nó, còn Khai Minh thì vừa tiếp tục trải qua thêm một giấc mơ kì lạ, có lẽ chàng sẽ nhanh chóng tìm hiểu và nghĩa phụ chính là cuốn bách khoa toàn thư sống động nhất.

  • Tại biệt viện ngoại ô Thái Dương Thành, nơi Khai Minh sinh sống cùng nghĩa phụ hai mươi năm qua, mặt trời đã ló rạng, gà đã cất tiếng gáy, ánh nắng chiếu rọi nơi đây làm cho ngôi nhà tranh nhỏ càng thêm huyền ảo và lung linh trong sương sớm. Khai Minh tuy đang là Trấn Quốc Đại Tướng Quân nhưng chàng quen sống giản dị từ nhỏ, nhiều lần Bạch Tinh hoàng đế định ban tặng chàng riêng phủ tướng quân nhưng chàng liên tục từ chối, Khai Minh không muốn phung phí quốc khố vào việc xây nhà cao cửa rộng cho chàng, thay vào đó có thể dùng số tiền này xây thêm đập ngăn lũ hay cất nhà cho dân lang thang cơ nhỡ trong thành. Đây cũng là đức tính mà nghĩa phụ Dược Vương rất ưng ý ở chàng. Khai Minh đang tản bộ trong hoa viên với rất nhiều hoa thơm cỏ lạ, kì trân dị thảo, trong lòng chàng đang có rất nhiều tâm sự muốn giải bày với nghĩa phụ nhưng lại ngại hỏi trực tiếp, ví như cha mẹ ruột của chàng là ai? Nghĩa phụ có con ruột hay không? Tại sao hai mươi năm nay người lại cam tâm an phận sống ẩn dật mà không quay lại trả thù, vạch mặt tên vua giả Bạch Tinh đó? Thân phận chàng có liên quan gì tới hai người kì lạ mà chàng đã gặp trong giấc mơ đêm hôm trước không? Hàng chục câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu Khai Minh, chàng đang trầm tư thì giật mình vì nghe có tiếng la lớn:

    – Thánh chỉ tới!

    Chàng quay lại nhìn thì thấy một đám khoảng bốn người đang tiến vào biệt viện. Đi đầu là một vị thái giám trung niên tướng người nhỏ nhắn tên Cát Tường, theo sau có hai công công và một cung nữ. Cát Tường có dáng đi ẻo lả nhanh nhẹn, bước chân thoăn thoắt không hề phát ra tiếng động lớn, đủ thấy y cũng là một tay cao thủ cừ khôi, tay y cầm thánh chỉ bằng lụa vàng, giọng lanh lảnh ngân nga:

    – Tinh sương ngọc chiếu càn khôn, vạn vật tịnh tâm nghe phán! Hoàng đế bệ hạ, tức đương kim vương Ất Mộc, đức cao vọng trọng, long nhan vui mừng, nay ban chỉ dụ.

    Khai Minh chưa kịp bước ra nghênh tiếp đã nghe một tràng vần vè dài hơn cả khúc hát. Chàng lấy làm tức cười vì chất giọng eo éo của lão Cát Tường, truyền thánh chỉ lại còn bắt chước văn nhân thi phú ngâm thơ văn vẻ, rõ là thái giám lại học đòi làm văn quan, nhất thời chàng kìm nén trong lòng không dám thốt ra tiếng cười, vì dù sao y cũng là tay hầu hạ thân cận nhất của hoàng đế. Đột nhiên phía bên trong nhà, một giọng nói trẻ trung trầm đục đã cất lên trước:

    – Ấy ấy! Thánh chỉ hay thơ phú đấy? Ngươi định đọc hết cả thiên văn lịch sử nước nhà à?

    Người vừa nói chính là Khai Phát, thư đồng thân cận của Khai Minh, cũng được Dược Vương nhặt về nuôi từ nhỏ, cho theo hầu hạ Khai Minh. Hắn ló đầu ra từ trong màn, đầu bù tóc rối, miệng vẫn còn ngậm bánh bao nhưng mắt thì đã long lanh tỉnh táo. Cát Tường công công liếc Khai Phát một cái, hừ giọng mũi và nói:

    – Hứ! Đây là thánh chỉ, không phải trò đùa. Truyền thánh ý là phải trịnh trọng, có vần điệu, có khí phách. Nể tình ngươi là người nhà của Đại Tướng quân nên ta bỏ qua, với lại xem ra ngươi tuổi còn trẻ nhưng khôi ngô tuấn tú, lão đây tha cho ngươi đó! Hứ! Đại Tướng quân tiếp chỉ.

    – Thần Khai Minh tiếp chỉ!

    Nói xong liền giơ tay ra hiệu cho Khai Phát cùng quỳ xuống. Cát Tường hắng giọng, hai tay giở thánh chỉ ra, đọc vang trong nắng:

    – Phụng Thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết: Trấn Quốc Đại Tướng Quân Khai Minh tuổi trẻ tài cao, anh hùng xuất thiếu niên, liên tục lập công, vừa qua đã thay mặt trẫm dạy cho bọn Tùng Hoa Quốc một bài học. Có được điều này là nhờ ơn trên phù hộ, ban cho nước ta một nhân kiệt xuất chúng, nay trẫm xét công lao to lớn, thăng cho làm Trấn Quốc Công, hàm nhất phẩm đại quan, quân cơ đại thần, ban thêm mười vạn lượng vàng, hai mươi vạn nén bạc, một ngàn tấm lụa, mười cô hầu gái, mười vạn hộ phía Tây kinh thành, ngoài ra còn có thể cưỡi ngựa đi vào cung cấm không cần báo cáo. Sau khi nhận chỉ lập tức vào cung diện thánh. Khâm thử!

    Cát Tường công công cuộn thánh chỉ lại giao cho Khai Minh và dặn dò:

    – Trấn Quốc Công xin hãy lĩnh chỉ tạ ân rồi mau chóng vào chầu, đây là lần đầu tiên một người được ban thưởng trọng hậu như vậy. Mong Quốc Công gia sau này tiếp tục ra sức vì bệ hạ, vì Ất Mộc hùng cường, lão nô xin cáo lui về triều phục mệnh.

    Khai Minh tiếp chỉ tạ ơn rồi tiễn đoàn người của Cát Tường ra khỏi biệt viện. Khai Phát chạy đến giật lấy thánh chỉ chăm chú đọc rồi nói:

    – Đại ca, huynh thật có phước, hoàng thượng ban tặng biết bao nhiêu là bổng lộc, phần thưởng to lớn, nhất là mười cô hầu gái, huynh nhớ cho đệ một cô nhé, hahaha, để các cô gái đó thay đệ chăm sóc cho huynh.

    Khai Minh nghiêm nghị nói với thư đồng, người mà chàng coi như đệ đệ ruột này:

    – Đệ chớ có nói càn, ban thưởng nhiều chứng tỏ hoàng thượng càng cần ta hơn và đó là áp lực cho ta. Nên nhớ chơi với vua như chơi với cọp, xưa nay đại thần công cao lấn chủ đều không có kết cục tốt, hơn nữa vị hoàng đế này còn không phải…

    Khai Phát đang định hỏi không phải chuyện gì thì Dược Vương Khương Bách lên núi hái thuốc trở về, vừa bước vào cổng ông đã nói lớn:

    – Hai con xem ta hôm nay thu hoạch được gì nào? Là Mai Sơn Linh Chi, có công dụng cải tử hồi sinh, thật đáng mừng!

    Hai người chạy lại giúp nghĩa phụ, Khai Minh thì dìu Dược Vương còn Khai Phát thì đem giỏ thuốc vào trong dược phòng. Đoạn chạy ra khoe:

    – Nghĩa phụ, người xem hôm nay đại ca được ban thưởng gì nào, người đọc thánh chỉ là biết ngay!

    Khương Bách giở ra xem thì thấy quá nhiều ân huệ, tự dưng dồn dập đến thế này e rằng không hẳn là chuyện tốt, ông định mở lời nói chuyện với Khai Minh thì chàng nói:

    – Nghĩa phụ, bệ hạ triệu con vào cung, con phải nhanh chóng có mặt, có chuyện gì về nói sau nhé!

    ******

    Buổi chầu sáng hôm đó tại Ngọc Minh Điện, văn võ bá quan tề tựu đông đủ, xếp thành hai hàng chỉnh tề. Hoàng đế Bạch Tinh ngồi trên ngai vàng, vận long bào tím nhạt, ánh mắt bình hoà nhìn xuống hai hàng văn võ, đứng đầu quan văn là Tể tướng Thanh Khôi, đứng đầu quan võ là Quốc công Khai Minh, bên tay trái Bạch Tinh là Cát Tường công công, bên tay phải hắn là cận vệ Hàn Mục, kẻ theo hắn đã lâu, rất mực trung thành. Bạch Tinh giơ tay ra hiệu cho Cát Tường tuyên chiếu:

    – Bệ hạ có chỉ: Trấn Quốc công Khai Minh, vì công lao dẹp yên phản loạn, giữ vững biên cương, giúp lòng dân quy phục triều đình, nay trẫm thay mặt hoàng thất ban cho đại hôn, thành thân với nhị công chúa Thiên Diệp. Đợi chọn được ngày lành tháng tốt sẽ long trọng cử hành, bá quan và nhân dân cả nước cùng vui!

    Hàng loạt ánh mắt đổ dồn về Khai Minh. Có ngưỡng mộ, có ganh tỵ, có cả thù ghét. Riêng Thanh Khôi, Tể tướng Ất Mộc, đứng đầu hàng bên phải, gương mặt thẫn thờ chất chứa nỗi uất ức không tên, dường như hắn vừa bỏ lỡ một thứ gì đó. Nguyên là Thiên Diệp và Thanh Khôi từ nhỏ đã cùng lớn lên bên nhau, cùng học một thầy, do cha của Thanh Khôi là lão Thái sư Thanh Phủ nên chàng được vào cung học chung với hoàng tử và công chúa, cả hai có thể xem như thanh mai trúc mã. Lâu ngày Thanh Khôi nảy sinh tình ý với công chúa Thiên Diệp, nhưng vì ngại ngùng nên chưa nói ra, định bụng sẽ nhờ cha bẩm tâu với hoàng thượng xin ban hôn, chàng thiết nghĩ cha chàng có công với triều đình, chức cao quyền trọng nên hôn sự đó sẽ được đồng ý, nào ngờ chưa kịp tỏ tình thì hoàng thượng đã ban hôn cho Thiên Diệp và Khai Minh. Người tính không bằng trời tính, tự dưng Tùng Hoa Quốc nổi loạn làm cho Khai Minh có cơ hội được dịp thể hiện và điều Thanh Khôi không mong đợi nhất lại xảy ra, Khai Minh dẹp yên quân địch, được phong Quốc công, địa vị đã cao hơn chàng, nay lại được gả công chúa, người mà chàng đã thầm thương trộm nhớ từ lâu. Thanh Khôi không nhịn được khẽ liếc Khai Minh một cái.

    Bên cạnh Bạch Tinh, cận vệ Hàn Mục lẩm bẩm:

    – Bệ-hạ… người luôn… thấu hiểu ai… x-x-xứng đáng…

    Thì ra hắn là một kẻ cà lăm, bị tật nói lắp nhưng rất thích nói chuyện. Hoàng đế Bạch Tinh cất tiếng hỏi, vang vọng khắp Ngọc Minh điện:

    – Thế nào Trấn Quốc công, ngươi có đồng ý hôn sự này không. Sau khi thành thân, ngươi sẽ trở thành Phò mã, con rể của ta, sau này ta cũng yên tâm giao lại Ất Mộc cho ngươi!

    Câu nói vừa dứt, bá quan liền xôn xao bàn tán, không ngờ bệ hạ lại ưu ái Khai Minh đến như vậy, họ thi nhau tranh luận:

    – Ngài ấy thật may mắn, bệ hạ sẽ truyền ngôi cho ngài ấy.

    – Đại hoàng tử bị thiểu năng, nhị hoàng tử sức khoẻ không tốt, tam hoàng tử ham chơi lêu lổng, tứ hoàng tử nhu nhược yếu đuối, xem ra vị phò mã này sẽ kế thừa đại thống rồi.

    – Tên đó còn trẻ mà hưởng nhiều đặc ân như vậy, thật đáng ghét!

    Khai Minh ngạc nhiên vì hôn sự này, nhưng do chàng và Thiên Diệp đã có tình ý từ trước nên vừa thẹn vừa vui mừng, chàng gật đầu đồng ý:

    – Thần xin đa tạ đại ơn đại đức của bệ hạ, nguyện hết mình vì bệ hạ!

    Thiên Diệp đứng sau tấm màn phía sau bệ rồng, gương mặt đỏ như gấc chín, bàn tay nàng siết chặt tay của tỳ nữ Như Yên, tim đập thình thịch chỉ sợ Khai Minh vì lí do gì đó mà từ chối, nay nghe chàng đồng ý thì gương mặt giãn ra, lòng thấy vui sướng. Như Yên thấy chủ tử như vậy cũng vui lây và cười tít mắt.

    Bạch Tinh khẽ nhìn Thanh Khôi xem phản ứng của chàng, thì thấy vị Tể tướng gương mặt lúc xanh lúc đỏ, xem ra đang rất tức giận, quả đúng với kế hoạch chia rẽ của hắn. Hắn bồi thêm một câu:

    – Chuyện này giao cho Tể tướng Thanh Khôi soạn thảo ý chỉ của ta, bố cáo thiên hạ để cả nước cùng vui!

    Thanh Khôi lĩnh chỉ và xin thời gian một ngày để soạn chiếu, không quên ném ánh mắt thù hận về phía Khai Minh. Bạch Tinh quan sát từ xa và nở nụ cười đắc ý.

    ******

    Sau khi buổi chầu kết thúc, triều thần tản dần khỏi điện Ngọc Minh. Nhiều người tiến đến chúc mừng Khai Minh. Có kẻ giả lả, có người thật tâm, cũng không thiếu ánh nhìn ganh tỵ sau lớp mặt nạ triều phục. Hàn Mục, dáng người nhỏ, khăn giáp chỉnh tề, ánh mắt sáng như trăng, nhẹ nhàng tiến tới trước Khai Minh. Hắn đứng thẳng chắp hai tay, rồi cúi đầu thật sâu:

    – K-k-khai… Khai… K-k-khai quốc công… — Chúc… chúc mừng… người… đ-đã có… được cả… vinh… quang và h-hôn…ư-ước.

    Câu nói kéo dài gần nửa canh giờ trong ánh mắt dở khóc dở cười của một vài quan binh gần đó. Nhưng Khai Minh chỉ gật nhẹ, không tỏ vẻ khinh thường hay ngạc nhiên. Chàng biết rõ, trong tiếng nói lắp bắp ấy là một tấm lòng trung hậu thật sự. Ngay sau đó, tiếng quạt xếp lại vang lên phạch phạch. Thanh Khôi bước đến, gương mặt đã bình hoà hơn, ánh mắt che đi sự đố kỵ bên trong, trịnh trọng nói:

    – Bổn tướng chúc mừng Quốc công gia. Vừa lập đại công, lại sắp trở thành phò mã… quả nhiên song hỉ lâm môn.

    Tiếng nói của chàng không lớn, nhưng nhiều vị quan chưa rời khỏi điện đều nghe thấy và quay lại nhìn, quả nhiên Tể tướng bụng dạ rộng rãi, người ta đồn hai vị trọng thần bất hoà vì công chúa Thiên Diệp, nhưng hôm nay Thanh Khôi lại chúc mừng Khai Minh. Đúng là tin đồn thất thiệt. Bọn họ đâu có ngờ rằng phía sau từng câu chúc đó lại ẩn chứa sự ganh ghét âm thầm của vị Tể tướng đạo mạo này.

    Phía sau màn gấm, Như Yên để ý công chúa, nàng nhìn thấy đôi má công chúa đỏ bừng. Thiên Diệp quay người đi, như muốn né tránh ánh nhìn và giấu đi sự ngại ngùng nhưng khoé môi vẫn không che được nét e lệ pha lẫn hân hoan. Mối tình của nàng và Khai Minh sắp đơm hoa kết trái sau nhiều năm ấp ủ, còn gì bằng khi được đích thân hoàng đế ban hôn trên đại điện. Đôi trai tài gái sắc của Ất Mộc sắp thành thân, đúng là chuyện vui đến liên tục.

    ******

    Tại ngự thư phòng phía sau Ngọc Minh điện, hương trầm nhè nhẹ lan giữa không gian tĩnh mịch. Thanh Khôi đứng thẳng trước long án, thần sắc ôn hòa nhưng ẩn sau đó là từng lớp sóng ngầm.

    – Bệ hạ, thần có điều muốn thưa.

    Hoàng đế Bạch Tinh vừa phê duyệt tấu chương vừa gật đầu cho phép.

    – Năm xưa, chính người từng hứa rằng sau này khi trưởng thành sẽ ban hôn cho thần và nhị công chúa, nhưng sao hôm nay người lại hạ chiếu gả công chúa cho Khai Minh? Mong bệ hạ giải đáp thắc mắc này của thần, thần và công chúa vốn là…vốn là…thanh mãi trúc mã từ nhỏ.

    Giọng chàng vẫn điềm đạm, nhưng lại chậm rãi và ấp úng như chất chứa cảm xúc sâu thẳm, dù sao thì Thanh Khôi cũng vừa tròn hai mươi hai tuổi, chỉ là một chàng thanh niên. Bạch Tinh dừng bút, ánh mắt vẫn dõi theo tấu chương trước mặt:

    – Chuyện nhân duyên, vốn do trời định. Đúng là trẫm có đề cập chuyện đó khi các ngươi còn nhỏ nhưng chưa hề tuyên chỉ chính thức, phụ thân ngươi cũng chưa từng đặt vấn đề với trẫm về chuyện hôn sự này. Hôm nay, khi thời thế đổi thay, Khai Minh vừa lập công nơi tiền tuyến, trong tay hắn nắm binh quyền, quản lý hàng vạn tinh binh của Ất Mộc ta, nếu không ban thưởng tương xứng, lỡ như làm cho hắn sinh lòng không phục, có ý tạo phản, chúng ta không thể dàn xếp được kết cục đâu.

    – Nhưng thần… không phục, hắn có tài nghệ gì hơn hạ thần chứ, hơn nữa ngài có thể lấy lại binh quyền của hắn với lí do chiến tranh đã chấm dứt kia mà.

    Bạch Tinh ngẩng đầu lên nhìn Thanh Khôi. Lần đầu tiên, đôi mắt ông ta ánh lên tia nhìn lạnh lẽo cương quyết:

    – Ái khanh bình tĩnh, đúng là tài năng của ngươi không hề thua kém hắn, nhưng nay sự việc đã như vậy, Khai Minh vừa ca khúc khải hoàn trở về, nếu ta lấy lại binh quyền sẽ sinh lòng nghi ngờ cho hắn, các tướng lĩnh dưới trướng hắn cũng sẽ không phục khi chủ tướng của chúng bị đối xử tệ bạc, điều này dễ sinh binh biến, hiện nay đại quân đồn trú trong Thái Dương thành phần lớn đều là người của hắn, nếu xảy ra chuyện thì tính mạng của hoàng tộc sẽ bị đe doạ. Trẫm đã cân nhắc lợi hại nên mới đưa ra quyết định ban hôn. Hoàng thất còn nhiều vị công chúa dịu dàng xinh đẹp, trẫm có thể mai mối cho ngươi với một vị công chúa khác không kém Thiên Diệp.

    Bạch Tinh ra sức dụ dỗ và khích tướng Thanh Khôi, hắn thừa biết chàng yêu Thiên Diệp từ nhỏ, tình cảm này rất sâu đậm, đâu dễ gì thay thế bằng người khác được. Chàng càng từ chối và tỏ ra không phục, càng đi vào cái bẫy mà hắn và Lam Ảnh đã vạch ra từ trước: gây chia rẽ hai trụ cột của Ất Mộc, để bọn chúng dễ bề thâu tóm mà không cần tốn nhiều công sức. Thanh Khôi ủ rũ và thất vọng tràn trề, chàng cúi đầu và nói:

    – Thần xin đa tạ thịnh tình của bệ hạ, nhưng hiện giờ thần không thể chấp nhận người khác, thần xin cáo lui, bệ hạ hãy nghỉ ngơi!

    Bên ngoài ngự thư phòng, gió đã bắt đầu thổi, làm cho lòng người thấy se lạnh và càng lạnh hơn nữa khi bên trong cung cấm lại ẩn chứa quá nhiều âm mưu thâm độc, chúng diễn ra từ từ và không biết sẽ thảm khốc đến mức nào nếu Bạch Tinh và Lam Ảnh đạt được kế hoạch của chúng. Hai chàng trai trẻ của Thái Dương thành ngày càng bị xa cách bởi thủ đoạn tinh vi của kẻ địch, thời khắc cơn bão ập tới Ất Mộc Quốc chắc không còn xa nữa.

  • Phía dưới bệ rồng của Bạch Tinh có một mật thất sâu dưới lòng đất, một bóng áo đen đang cầm đuốc đi xuống, chính là hoàng đế Ất Mộc giả mạo – Bạch Tinh. Hắn mở cánh cửa đá có chạm khắc hình chó ba đầu của địa ngục và đi vào bên trong. Không gian bên trong rất rộng lớn, to bằng một phòng họp đủ sức chứa cả trăm người. Phía dưới sàn là một lớp thảm được xây bằng hắc thạch. Trên tường là những phù văn lạ lẫm, hình thù kì quái, gương mặt hung tợn, mỗi lần ánh lửa trên bó đuốc lay động, chúng dường như cũng chuyển động âm thầm.

    Ở chính giữa sảnh, mười hai chiếc ghế đá được xếp hình vòng tròn, mỗi chiếc ghế là hình đại diện cho mười hai con giáp, còn một chiếc ghế to nhất được xếp phía trên ngai cao, xung quanh sắp sẵn bốn mươi chín ngọn nến làm sáng rực cả mật thất, chiếc ghế đó là dành cho Bạch Tinh. Hắn vừa an tọa liền vỗ tay ba tiếng, lập tức có mười hai bóng ảnh thoắt ẩn thoắt hiện và ngồi vào từng vị trí của mỗi chiếc ghế đã xếp sẵn theo bố cục.

    Không khí trong điện đang tĩnh mịch thì Bạch Tinh lên tiếng:

    – Chào các vị! Đã lâu rồi chúng ta mới tập hợp được đầy đủ thế này! Trẫm rất vui mừng được gặp lại chư vị.

    Một kẻ đeo mặt nạ hình Rồng lên tiếng, hắn cao lớn vạm vỡ, giọng nói trầm và vang rền:

    – Thần thay mặt các huynh đệ kính chúc bệ hạ vạn phúc kim an! Không biết hôm nay người triệu tập tất cả chúng thần là có chuyện hệ trọng gì hay không? Đã hơn mười năm rồi chưa có đông đủ như vầy.

    Một kẻ khác đeo mặt nạ hình con Mèo, dáng người nhỏ nhắn, giọng nói nhẹ nhàng và trong trẻo, có lẽ là một cô gái, tiếp lời:

    – Long đại ca nói đúng, chắc hôm nay bệ hạ vĩ đại của chúng ta gặp nan đề nên mới triệu tập cả nhóm chúng ta để làm một việc lớn cho ngài.

    Một tên vai u thịt bắp mang mặt nạ hình con Chó, giọng sang sảng như tiếng chuông đồng, hỏi dồn:

    – Bệ hạ xin hãy cho biết lí do, có phải muốn chúng thần giết một tên quan chó má nào không? Nếu vậy thì chỉ cần giao chuyện đó cho thần, lập tức dâng cái đầu hắn lên cho ngài, hahaha.

    Bạch Tinh chậm rãi đáp lời:

    – Tiểu Tuất ngươi chớ nóng vội, chuyện đâu còn có đó, đúng là ta muốn các ngươi giết người, nhưng không phải một người, hơn nữa những kẻ này võ công không kém, nên ta mới cẩn thận triệu tập tất cả các ngươi để cùng lên một kế hoạch thật chu toàn, ta không muốn có bất cứ sai sót nào.

    Mười hai tên nhìn nhau, không ai nói lời nào. Chúng biết rằng khi Bạch Tinh nói vậy thì những kẻ mà bọn chúng sắp đối phó đều không hề đơn giản, có thể là những cao thủ hạng nhất trong võ lâm hay trọng thần của một nước nào đó. Nguyên bọn này chính là nhóm sát thủ khét tiếng giang hồ, có tên là Mười Hai Con Giáp. Bọn chúng xuất thân tạp nham tứ xứ, mỗi kẻ nếu không phải là sơn tặc, cướp biển thì là cường hào ác bá, phản bội sư môn, giết người cưỡng hiếp, không chuyện ác nào không làm. Khoảng hai mươi năm trước, Bạch Tinh chu du thiên hạ ra tay cứu vớt và giúp đỡ bọn chúng, sau đó tập hợp chúng lại, tổ chức thành nhóm sát thủ như hiện nay. Đứng đầu trong bọn chúng là tên đeo mặt nạ hình Rồng lúc nãy nói chuyện, được gọi là Long đại ca, mỗi tên còn lại cũng đeo mặt nạ hình con vật mà chúng đại diện, trong bọn có nam có nữ đầy đủ, nhưng đặc biệt là bọn chúng không hề biết tên và gương mặt thật của nhau, dù đã cộng tác gần hai mươi năm nay. Bạch Tinh lập ra tổ chức này nhằm phục vụ các mưu đồ chính trị của hắn, nếu trong triều có vị quan nào chống đối các chính sách của hắn thì đều gặp nạn diệt môn, hung thủ lại hành động vô cùng thần bí, không để lại bất kì dấu vết nào. Bằng thủ đoạn đó, Bạch Tinh đã thanh trừng rất nhiều vị quan thanh liêm trung thành với Khương Bách ngày trước, đưa tay chân thân tín của hắn lên thay thế, xa hơn hắn còn dùng bọn này bí mật ám sát các vị quan lớn của các quốc gia nhỏ lân cận, gây bất ổn trong khu vực và tạo ra vô số các cuộc chiến tranh lớn nhỏ giữa Ất Mộc với các nước lân bang trong hai mươi năm nay, có lẽ việc ám sát tể tướng Tùng Hoa Quốc lần trước cũng do hắn chỉ đạo bọn sát thủ này ra tay. Bạch Tinh hỏi:

    – Tiểu Hợi, lần trước sai ngươi hành thích tên Khai Minh đó sao lại thất bại trở về? Trẫm chưa được nghe báo cáo.

    Kẻ đeo mặt nạ hình con Lợn, dáng người thấp lùn, béo tròn bỗng ấp úng:

    – Dạ…dạ…bẩm…bẩm bệ hạ, thần không ngờ tên đó võ công cao cường như vậy, là do thần chủ quan, mong bệ hạ trách tội!

    Nói xong hắn quỳ xuống chờ phạt, nhưng một kẻ đeo mặt nạ Khỉ, dáng cao gầy, tay chân thon dài và tác phong nhanh nhẹn, cất tiếng khàn đục:

    – Lần này ngươi hết chối tội, suốt ngày ăn no rửng mở, sáng ra sòng bạc tối vào kĩ viện, võ công tệ hại như ngươi thì hành thích được ai, bệ hạ hãy phạt hắn thật nặng vào!

    Khỉ và Hợi trước giờ bất hòa như nước với lửa, có cơ hội là lập tức đâm thêm một nhát. Một giọng nữ the thé cất lên bên cạnh Hợi:

    – Bệ hạ tha tội, Hợi đúng là có chủ quan nhưng đối phương cũng không phải kẻ tầm thường, lại đi với ba vạn đại quân khí thế đang lên, xin ngài hãy cho hắn lập công chuộc tội.

    Hợi khẽ liếc nhìn kẻ vừa xin cho mình, là một nữ nhân đeo mặt nạ Rắn, hắn hơi bất ngờ vì trước nay cả bọn không ai bênh vực ai, bọn chúng thường hoạt động độc lập và cũng rất ít khi tập hợp cả bọn như thế này, điều này làm cho hắn nhất thời ngơ ngác. Bạch Tinh quan sát cả bọn rồi cất giọng trên ngôi cao:

    – Nể tình tiểu Tỵ xin cho ngươi, hơn nữa ngươi cũng làm cho hắn trúng độc bị thương, kể ra cũng không hoàn toàn thất bại nên trẫm không tính toán với ngươi lần này, đứng dậy đi!

    Hợi đứng dậy khẽ gật đầu với Tỵ như hành động cảm ơn, điều này không thoát khỏi pháp nhãn của một kẻ giỏi quan sát gần đó, tiểu Tý. Bạch Tinh cất tay phát cho mỗi tên mười hai cẩm nang màu tím. Hắn dặn dò:

    – Chư vị theo mật lệnh mà làm, nếu phát sinh biến số thì báo cáo trực tiếp với ta! Tan họp.

    Một ngọn gió khẽ lay động làm tắt bốn mươi chín ngọn nến, trả lại sự im lặng thường ngày trong mật thất, cả bọn biến mất không để lại dấu vết nào.

    ******

    Ba ngày sau lần gặp dưới mật thất, Bạch Tinh hôm nay đến Lạc Thiên Hội Nghị Đình để tham dự cuộc họp năm năm một lần chọn ra Chủ tịch Hội đồng Thế giới. Lạc Thiên Hội Nghị Đình treo lơ lửng giữa tầng không, những đám mây bay ngang tôn thêm sự huyền bí, những cơn gió mát thổi nhẹ làm cho các chuông gió phía trên đỉnh đại điện vang lên tiếng ngân du dương dễ chịu, ánh sáng phản chiếu từ các mặt kính lấp lánh màu vàng tượng trưng cho quyền lực hoàng gia. Hôm nay đã tới kì Ngũ đại quốc cùng mười quốc gia thần phục họp mặt mỗi năm năm một lần, nhằm bầu chọn ra vị Chủ tịch mới điều hành Hội đồng Thế giới. Chính điện bày biện một bàn dài to đẹp, có chạm khắc hình rồng phượng, hai bên là hai dãy ghế dành cho các vị vua, mỗi bên gồm bảy chiếc tương ứng với mười bốn quốc gia không phải Chủ tịch, hai ghế đầu ở mỗi bên lần lượt là bốn quốc gia lớn: Ất Mộc, Mậu Thổ, Bích Hỏa và Canh Kim, vị trí chủ tọa của nhiệm kì hiện tại là dành cho vị Chủ tịch đầy quyền lực đến từ Quý Thủy, quốc vương Lam Ảnh, hắn đang chễm chệ trên ghế cao, gương mặt không hề bộc lộ chút cảm xúc nào, có điều lần này hắn tự nguyện xin rút không tái cử nhiệm kì hai và hắn đề xuất Bạch Tinh, vua của Ất Mộc thay thế. Bốn nước lớn còn lại có vẻ không mặn mà tranh cử, nguyên nhân bên trong thì vẫn còn là một dấu hỏi, có vẻ như Bạch Tinh một mình một ngựa và sẽ dễ dàng chiến thắng.

    Ngồi cạnh Lam Ảnh ngay bên trái hắn là Bạch Tinh, kẻ đang mỉm cười ôn hòa, hai tay chắp lại để trên bàn, dáng vẻ khiêm cung, vai khoác long bào tím nhạt, thần sắc điềm tĩnh, ánh mắt nhu hòa, dường như tự tin rằng mình sẽ đăng quang. Quốc vương Mậu Thổ là Thiên Linh ngồi bên cạnh Bạch Tinh. Thiên Linh là một vị minh quân, tướng mạo khôi ngô, gương mặt phúc hậu, võ công cao cường, thần thái thoát tục, chàng rất được lòng dân Mậu Thổ và danh tiếng hiền quân của chàng vang khắp bốn bể. Ở phía đối diện là hai vị vua của Bích Hỏa Quốc và Canh Kim Quốc. Nữ vương Minh Phượng của Bích Hỏa ngồi gần Lam Ảnh, bà là một tuyệt sắc giai nhân, được giang hồ xưng là thiên hạ đệ nhất mỹ nhân, ngoại hiệu Mĩ Vương, tính tình bộc trực thẳng thắn, ghét ác như thù, thương dân như con, võ công vô địch một vùng Nam viễn. Kế cận bà là lão quốc vương Hoàng Chung của Canh Kim, ông tuổi đã cao, nhưng sắc mặt hồng hào, dáng người cao lớn, gương mặt hiền hòa lộ ra chính khí, ngoại công đỉnh cao, năm xưa từng đánh bại vô số kẻ địch đến từ Ma Giới, là một đại cường giả đến từ phía Tây khô cằn. Năm vị vương của năm đại quốc lớn mỗi người mỗi vẻ nhưng đều là cao thủ tuyệt đỉnh của Nhân giới, là trụ cột chống lại Ma giới và Yêu giới hoành hành nhân gian.

    Người điều hành chương trình tuyên bố:

    – Nhân danh các vị vua cao quý tại thượng, ta xin phép được tiến hành nghi thức bầu chọn tân Chủ tịch Hội đồng Thế giới, kính mong các vị bỏ phiếu công tâm và chọn ra được một đại hiền nhân phục vụ lợi ích cho Nhân tộc chúng ta, tiếp nối những chủ trương và chính sách đúng đắn của Lam Ảnh bệ hạ, người đã vì cái chung mà rút lui do sức khỏe không bảo đảm, nhường lại cho tân vương mới xứng đáng hơn!

    Minh Phượng khẽ liếc nhìn Thiên Linh, hừ giọng mũi và nói thầm:

    – Đáng khinh, cái gì mà rút lui vì cái chung, do sức khỏe, tên gian tặc đó rất giỏi mị dân lấy lòng, bản vương thừa biết cái sự hai mặt của hắn, bề ngoài lịch sự bên trong ẩn chứa tâm cơ.

    Thiên Linh khẽ nhướng mày như dấu hiệu cho thấy đã hiểu ý Minh Phượng muốn nói gì, chàng nhìn sang Hoàng Chung thì thấy lão cũng nhăn trán, cho thấy trong nội bộ Hội đồng Thế giới cũng đang tồn tại nhiều thế lực, khi mà các vị vua không hề nhìn chung một hướng. Người điều hành phiên bỏ phiếu tiếp tục nói:

    – Mời các vị quốc vương tiến hành bỏ phiếu, kết quả sẽ được kiểm ngay sau đó. Xin mời Tổng Thư ký Lâm Tử Nhiên làm trưởng Ban kiểm phiếu.

    Mọi người dồn sự chú ý sang Lâm Tử Nhiên, một người phụ nữ trung niên dung mạo xinh đẹp, gương mặt trầm tĩnh và ánh mắt sắc sảo, không ai rõ lai lịch xuất thân của bà ấy, chỉ biết là công dân U Ảnh Quốc, một quốc gia láng giềng của Quý Thủy Quốc, nhiệm kì trước bà được Lam Ảnh giới thiệu giữ chức Tổng Thư ký, điều hành mọi công việc hàng ngày của Hội đồng Thế giới, tổ chức đặt trụ sở ở Mậu Thổ Quốc. Bình thường Lâm Tử Nhiên rất ít nói, cũng không thể hiện cảm xúc, thấy bà ta khó gần nên mọi người cũng ít trò chuyện. Bà ấy làm việc xuyên suốt trong Càn Khôn điện tại trụ sở Hội đồng Thế giới, nằm cách hoàng cung Mậu Thổ khoảng hai mươi dặm, rất ít khi ra ngoài, do năm nay hội nghị tổ chức tại Ất Mộc nên bà ấy mới đến đây tham dự. Các quốc gia lần lượt bỏ phiếu, Bạch Tinh và Lam Ảnh liên tục liếc nhìn nhau, xem ra hai kẻ này có sự hợp tác bí mật nào đó, sau khi Ban kiểm phiếu làm việc xong, người điều hành phiên họp dõng dạc công bố kết quả:

    – Xin được công bố kết quả bỏ phiếu: Hoàng đế Bạch Tinh của Ất Mộc Quốc, đất nước hiền hòa, mến khách và nổi tiếng với thảo dược, đã trúng cử chức danh Chủ tịch Hội đồng Thế giới nhiệm kì mới với tỷ lệ một trăm phần trăm phiếu bầu các các vị vua có mặt ở đây hôm nay, xin được chúc mừng ngài!

    Một tràng pháo tay vang lên, cả hội nghị cũng chúc mừng tân Chủ tịch. Bạch Tinh đứng dậy, chắp tay cúi đầu, giọng bình hòa vang vọng khắp đại điện:

    – Vì hòa bình đại lục, vì sự ổn định của mười lăm quốc gia chúng ta, bổn vương xin tận lực vì nhiệm kỳ sắp tới. Tiện thể đây xin được tiến cử nữ tướng Lâm Tử Nhiên tiếp tục giữ chức Tổng Thư ký điều hành công việc thường nhật của Hội đồng, khi nào có việc lớn quan trọng thì báo cáo bổn vương!

    Không ai lên tiếng phản đối, các nước nhỏ thì tiếng nói ít trọng lượng, các nước lớn còn lại thì có vẻ không mặn mà với chức vụ này. Kết quả trên nói với thế giới rằng Hội đồng rất đoàn kết, ít nhất là trên lí thuyết, còn các vị vua hàng đầu thì có vẻ họ chưa muốn thể hiện sự bất đồng công khai.

    Tối hôm đó tại mật thất hoàng cung Ất Mộc, Bạch Tinh và Lam Ảnh đang ngồi uống trà và bàn luận thế sự. Lam Ảnh nói:

    – Chúc mừng, tân Chủ tịch. Tuy bọn Minh Phượng, Thiên Linh có vẻ không hài lòng nhưng bọn chúng vẫn bỏ phiếu cho ngài, chưa dám đối đầu công khai. Xem chừng bọn chúng đã nghi ngờ chúng ta.

    – Mọi thứ vẫn đang đi đúng hướng. Hiện giờ triều đình Ất Mộc đã hoàn toàn nằm trong tay ta, tàn dư của Khương Bách đã bị ta loại trừ gần hết, Tùng Hoa Quốc đã bị chiếm đóng, Ngọc Phong Quốc vẫn đang thần phục, haha. Bạch Tinh nhấp một ngụm trà nghi ngút khói, nở nụ cười đắc ý.

    – Chia rẽ bọn chúng không cần dùng vũ lực, chúng ta cứ bày binh bố trận dụ chúng tự tàn sát lẫn nhau, ví như hai tên hậu bối Khai Minh và Thanh Khôi, ngày mai ngài hãy truyền chỉ ban thưởng cho Khai Minh, xoáy sâu thêm vào mối quan hệ đang rạn nứt của chúng. À phải, lúc nãy ngài nói tàn dư của Khương Bách đã dọn dẹp gần hết, vậy là vẫn chưa hết. Lam Ảnh hỏi lại.

    – Còn lão Thái sư Thanh Phủ, cha của Thanh Khôi, hắn là nhị triều nguyên lão, đức cao vọng trọng, tuy đã cáo quan về hưu nhưng sức ảnh hưởng vẫn còn, ta vẫn chưa tìm được cái cớ để diệt trừ hắn. Thanh Khôi con trai hắn lại đang là đương triều tể tướng, xem ra cái gai này khó nhổ đấy.

    – Trước mắt chúng ta cứ ly gián hai tên Khai Minh và Thanh Khôi, sau khi tiêu diệt chúng thì lão già Thanh Phủ đó muốn xử lý lúc nào mà không được. Lam Ảnh vừa nói vừa ngước lên nhìn mái vòm của mật thất.

    – Sớm muộn gì Ất Mộc cũng hoàn toàn thuộc về chúng ta. Sau đó hai ta liên kết Quý Thủy và Ất Mộc lại cùng đối phó lão huyền bà Minh Phượng đáng ghét kia. Bạch Tinh trợn mắt, dường như rất căm hận Minh Phượng.

    – Kế hoạch chia ra tiêu diệt từng nước của chúng ta rất hay đó, nếu thành công thôn tính được ngũ đại quốc thì Nhân giới này chúng ta sẽ cùng nhau hưởng, hahaha. Lam Ảnh cười lớn đắc ý rồi nói tiếp: – Sau đó thì tấn công cả Ma giới và Yêu giới, thống nhất lục địa này, có đúng không tân Chủ tịch!? Bạch Tinh cũng cất tiếng cười lớn và gật đầu, một âm mưu khủng khiếp đã bắt đầu trong mật thất bí ẩn của Thái Dương Thành.

  • Với những dòng suy nghĩ miên man bất tận về chính trị và quyền lực, Khai Minh cảm thấy có chút đau đầu, vết thương của chàng đang dần khỏi nhưng tác dụng của thuốc khiến cơ thể cảm thấy buồn ngủ, chàng lên giường nằm nghỉ và chìm vào giấc ngủ tự lúc nào.

    Trong giấc mơ, Khai Minh thấy mình trôi nổi giữa một không gian không có phương hướng, phía trên không có bầu trời, dưới chân không có mặt đất, cơ thể chàng bay bổng giữa không trung đặc một màu vàng kim lấp lánh. Phía trước có một vùng ánh sáng vàng mờ nhòe và gió thổi ngược về phía chàng từ cả bốn phía. Trong vô thức, tâm trí chàng trống rỗng, không hề biết bản thân đang đi đâu nhưng có gì đó trong lòng thúc giục hãy bước tới, Khai Minh bước đi, nói là bước đi nhưng thật ra chân chàng không chạm đất, cứ đi, đi mãi theo vùng ánh sáng vàng nhỏ nhoi lập lòe đó và rồi chàng thấy hai bóng người ở trước mặt. Một người mặc trường bào trắng bạc, có vẻ là một lão thần tiên, cưỡi đám mây ngũ sắc, tay cầm phất trần, lưng đeo trường kiếm, gương mặt hiền từ. Ánh hào quang sáng chói từ người đó khiến mọi thứ xung quanh như bị đẩy lùi, Khai Minh không thể nhìn rõ mặt, chỉ cảm nhận được khí tức ấm áp và chính đạo tỏa ra. Người còn lại thì ngồi trên lưng một con hoàng kim thần ngưu to lớn, vận y phục vàng nhạt, tay cầm một cây chùy phát ra thần khí, ông có dáng người cao, gương mặt thanh tú, vầng trán như thái dương và một mái tóc đen dài xõa xuống vai. Có vẻ như hai người họ đang trò chuyện về một vấn đề gì đó, Khai Minh đang cố lắng nghe. Lão thần tiên nói trước:

    – Ngươi nghĩ thế giới này cần ánh sáng để tồn tại? Hay cần sự lựa chọn cho riêng họ? Chuyện xảy ra cũng đã gần tám trăm năm rồi, ngươi cũng đừng tự dằn vặt mình nữa, ta biết mọi chuyện không chỉ ở ngươi, là ‘’người đó’’ tác động, nhưng bản thân ngươi cũng không kiềm chế được dục vọng của mình, nhưng thôi chuyện cũng đã qua rồi, giờ đây chúng ta phải tìm cách xử lý, không phải ủ rủ than thở.

    Người mặc áo vàng không đáp, chỉ lặng lẽ cúi đầu. Ông ta nhìn trông uy nghi thần thái, nhưng có vẻ như những lời nói của lão thần tiên đã đánh trúng tâm lí của ông ấy. Cả không gian bỗng nhiên cô tịch, không có bất cứ âm thanh nào. Lão thần tiên cũng trầm ngâm hồi lâu, rồi nói:

    – Nhưng nếu chúng ta bỏ mặc không lo, thì thế gian này rồi sẽ đi về đâu? Mong là ngươi suy nghĩ kĩ và vượt qua nỗi ám ảnh quá khứ, làm lại từ đầu, chúng ta vẫn còn hi vọng mà ngươi đã gieo lại lúc thiên cung sụp đổ mà nhỉ!? Không phải bây giờ ‘’hắn’’ đang có mặt ở đây sao? Có thể hắn đã nghe được câu chuyện giữa ta và ngươi. Cũng tốt thôi, vì sớm muộn ‘’hắn’’ và ngươi sẽ gặp nhau, điều đó là bắt buộc nếu như ngươi vẫn còn chút suy nghĩ muốn cứu thế giới này.

    Người áo vàng bỗng quay đầu nhìn về phía Khai Minh, làm chàng giật mình đánh thót. Nhưng thủy chung ông ta vẫn không mở miệng nói chuyện, chỉ ném một ánh nhìn đầy nghi hoặc về phía chàng, có lẽ ông ta bị một lời nguyền nào đó không cho phép ông ta lên tiếng. Khai Minh tự hỏi:

    – Hai người này nói cái gì mà cứu thế gian, rồi niềm tin sụp đổ, rồi gì mà tám trăm năm, bọn họ là người hay ma, hay thần tiên giáng thế, sao có thể sống lâu được tới vậy nhỉ? Nhưng sao ta chỉ nghe một mình ông lão đó nói, còn người đàn ông cưỡi trâu vàng kia sao hắn ta chỉ im lặng và cúi đầu nhỉ? Việc này tựa hồ như ông lão kia đang trách mắng gã đàn ông đó vậy.

    Chàng đang miên man trong dòng suy nghĩ nội tâm thì ầm một tiếng nổ lớn, không gian chàng đang đứng đổ sụp và tan biến vào hư vô, chợt Khai Minh nghe giọng nói truyền lại, dường như là của ông lão cưỡi mây ngũ sắc:

    – Chàng trai trẻ đừng ngạc nhiên, khi nào thời cơ tới ngươi tự khắc sẽ biết những gì cần biết, hôm nay là màn gặp gỡ đầu tiên của chúng ta, cứ bình tĩnh và ta sẽ còn quay lại tìm ngươi.

    Sau câu nói đó thì Khai Minh choàng tỉnh giấc, mọi chuyện vừa diễn ra có vẻ là một cơn mơ, nhưng sao tai chàng vẫn vang lên giọng nói của lão thần tiên đó, không giống như một giấc mơ chút nào. Chàng lẩm bẩm:

    – Thì ra là một giấc mơ, nhưng sau nó lại thật đến thế, hình dáng, giọng nói, cử chỉ của hai người đó, đâu có giấc mơ nào mà chân thật đến vậy nhỉ? Hay là ta trúng độc chưa khỏi, thần trí mê man nên sinh ra ảo giác!? Cả hai người đó đều có khí tức bất phàm, ngay cả vật cưỡi của họ cũng thoát tục siêu nhiên, không lẽ họ là thần tiên đến từ trời cao?

    Bên ngoài có tiếng gõ cửa và một làn hương thơm từ mùi trà xứ Ngọc Phong bay vào mũi Khai Minh, có tiếng nói của nghĩa phụ chàng vọng vào:

    – Hài tử, ra ăn sáng thưởng trà với ta, trà này là cống phẩm quý giá của Ngọc Phong Quốc, rất có ích cho vết thương của con, dưỡng thần lợi khí, ra hoa viên nhé, ta đợi con!

    Giọng nói yêu thương trìu mến của nghĩa phụ làm cho Khai Minh không còn suy nghĩ vu vơ nữa, chàng nhanh chóng bật dậy và chuẩn bị cho một bữa sáng thưởng trà ngon với nghĩa phụ.

    ******

    Tuyết đầu mùa rơi nhẹ trên mái hiên nhỏ nơi rừng ngoại thành. Ánh lửa lấp lánh hắt lên từ bếp hồng soi rõ dáng một thiếu niên khoác áo choàng ngồi trầm tư bên chén trà còn bốc khói. Khai Minh đang thưởng trà Ngọc Phong cùng với nghĩa phụ Khương Bách, người mà chàng kính trọng nhất trên đời. Giấc mơ kì lạ tối qua chàng vẫn giữ trong lòng, chưa kể lại với nghĩa phụ, có lẽ chàng không muốn ông lo lắng nhiều, vì tóc của ông đã điểm bạc, trán của ông đã lộ nếp nhăn. Người cha nuôi của chàng đang ngồi đối diện, dáng lưng còng nhẹ, tay chậm rãi giã thuốc, gương mặt hiền hòa như mọi ngày. Nhưng hôm nay, ánh mắt ông trầm hơn, dường như chất chứa tâm sự gì đó.

    – Minh nhi, con còn nhớ lần đầu ta gặp con chứ?

    Khai Minh gật đầu, mỉm cười:

    – Trong rừng Ngọc Sơn phía Bắc Thái Dương Thành. Lúc ấy con còn đỏ hỏn.

    Khương Bách nhắm đôi mắt lại, hồi tưởng chuyện xưa và nói:

    – Hai mươi năm trước, khi ta đi hái linh chi về làm nguyên liệu chế thuốc, lúc đó tình cờ đi ngang một khe suối nước chảy róc rách và trong veo, đột nhiên ta nghe tiếng khóc yếu ớt vang lên gần đó, ta vội vàng tìm đến thì thấy con đang nằm khóc bên bờ suối, thân thể được bọc bằng một tấm khăn lụa màu vàng, tiếng khóc con rất to, gương mặt lại khôi ngô dễ thương còn làn da thì trắng nõn. Vừa nhìn ta đã có cảm tình ngay với đứa bé, ta quan sát xung quanh xem có ai gần đó hay không nhưng hoàn toàn không một bóng người, ta liền bế con lên và đem về nuôi dưỡng tới bây giờ. Mới chớp mắt mà đã hai mươi năm trôi qua, từ một đứa bé kháu khỉnh nay đã là một chàng trai cao lớn vạm vỡ, tưởng như đã ở kiếp nào.

    – À phải, lúc đó con bao nhiêu tuổi nhỉ? Ta già rồi đãng trí quá. Dược Vương cười hiền và hỏi Khai Minh.

    Chàng chậm rãi đáp:

    – Năm trước con nghe người nói là lúc đó con khoảng một tuổi, vậy bây giờ con đã là một thanh niên hai mươi mốt tuổi rồi.

    – Giờ đây con đã đủ trưởng thành để nghe ta kể lại một bí mật lớn rồi.

    Khai Minh siết chặt chén trà, hồi hộp lắng nghe.

    – Ta vốn là vua của Ất Mộc Quốc này, hai mươi mốt năm trước, xảy ra một biến cố lớn làm ta phải mang thân phận Dược Vương cho tới nay.

    Khai Minh hốt hoảng làm rơi chén trà trong tay xuống đất, chàng không thể tin vào tai mình nữa.

    – Nghĩa phụ là vua…vua…của đất nước này? Vậy còn bệ hạ hiện nay là ai?

    Khương Bách dùng tay thấm một chút nước trà bôi lên mặt, sau đó ông xoa xoa vài cái rồi lột lớp da trên mặt ra, hiện lên một gương mặt rất giống với hoàng đế Bạch Tinh.

    – Hắn cải trang rất giống ta rồi thay thế ta làm vua, thay đổi chính sách hà khắc và gây sự với các nước láng giềng, làm cho dân chúng lầm than, quốc gia suy yếu, tội phạm hoành hành, các thế lực nổi lên khắp nơi, Ất Mộc nguy trong sớm tối.

    – Hắn là ai, tại sao lại hãm hại người và hắn làm vậy với mục đích gì? Khai Minh hỏi dồn.

    – Ta cũng chưa điều tra được thân phận thật sự của hắn, có điều hắn rất khéo léo, ban đầu hắn nhờ đại thần trong cung tiến cử, sau đó thể hiện trình độ học vấn cao nên được ta cất nhắc chức thái phó dạy học cho hoàng tử công chúa trong cung, từ từ chiếm được lòng tin của ta và thái hậu. Bỗng một hôm có người báo tin phủ thái phó bị hỏa hoạn lớn, cả gia đình đều bị chết trong biển lửa, ta và thái hậu đau xót thay cho một nhân tài lại đoản mệnh. Tối đó ta lập đàn cầu siêu cho cả nhà hắn, đột nhiên hắn từ đâu đứng sau lưng ta, ta mất hồn quay lại thì bị hắn đánh lén một chưởng trọng thương, ta dùng hết sức lực còn lại đánh trả một chưởng và cố gắng chạy thoát, chạy đến đây thì ngất xỉu, sau khi tỉnh lại ta mới biết mình được một tiều phu đi ngang cứu sống, sau đó ta thay tên đổi họ, đeo lớp da lên mặt để bọn chúng không nhận ra rồi ẩn cư làm thầy thuốc cho tới nay.

    Khai Minh sững sờ nghe nghĩa phụ kể, chàng chưa từng nghĩ vị cha nuôi mà chàng hằng kính trọng lại có thân phận cao quý và một quá khứ đau thương như thế, từ một người trên muôn người giờ đây phải sống ẩn dật lánh đời như vậy. Chàng càng không ngờ bệ hạ mà mình tôn kính, ngưỡng mộ lại là một kẻ ác độc xảo quyệt không rõ lai lịch, thật là trên đời này không thể học hết được chữ ngờ.

    – Nghĩa phụ có từng nghĩ phải giành lại ngai vàng hay không?

    – Hai mươi năm qua ta đã quen sống cảnh này rồi, trong ta bây giờ không còn ý định tranh giành hay trả thù, có điều ta thấy dân chúng lầm than, láng giềng gây chiến cũng không nỡ.

    – Nghĩa phụ cứ để cho hài nhi âm thầm điều tra chuyện này, thân phận của tên vua giả đó phải đưa ra ánh sáng, không thể để Ất Mộc bị hủy trong tay hắn được.

    – Con phải cẩn thận, ta nghĩ sau lưng hắn còn có một âm mưu lớn hơn, ta có linh cảm thời điểm bọn chúng lộ diện cũng sắp tới rồi.

  • Trên tầng mười hai của Cửu Trùng Thiên, nơi Thiên Cung tọa lạc, sương bạc cuộn trào, bao phủ vạn dặm không gian. Nơi đây là thánh địa của chính đạo thế gian, là nơi ánh sáng không bao giờ tắt, là nơi có các vị thần tiên băng thanh ngọc khiết, có các vì sao sáng chiếu rọi khắp thế gian. Vậy mà giờ đây, cũng tại nơi này, gió đã ngừng thổi, ánh sáng ngưng đọng tựa như vết cắt vĩnh cửu giữa vũ trụ hỗn mang. Nơi đây không còn âm nhạc du dương, không còn tiếng thần binh va chạm khi huấn luyện thiên binh, chỉ còn lại sự tĩnh mịch đến rợn người, báo hiệu một cơn đại kiếp sắp giáng trần. Trong lòng thiên điện Thái Hư uy nghi, hai bóng hình đứng đối diện, tựa hồ như hai cực thiện ác của càn khôn.

    Một vị áo trắng kim văn, đôi mắt thâm thúy tựa tinh không, từng là chủ tể tam giới, thống trị muôn loài, ở trên ngôi cao vời vợi, chính là Thiên Đế. Vị kia tử bào cuồn cuộn, mái tóc bạc như sương tuyết buông dài, trên vai là Ngục Khuyển Tam Đầu đang gầm gừ, đôi mắt đỏ rực lóe lên sát khí ngút trời, đó là Minh Vương, chúa tể âm ti cửu u. “Ánh sáng tự phong cho mình quyền định đoạt sinh tử vạn linh. Ngươi gọi đó là trật tự, nhưng ta thấy không phải, nó như là xiềng xích trói buộc sự tự do vốn có!” Giọng Minh Vương trầm đục, vang vọng khắp đại điện, xé tan sự tĩnh mịch. Thiên Đế không đáp, ánh mắt vẫn uy nghiêm, tĩnh tại. Trong tay ông là Khởi Nguyên ký, quyển cổ thư ghi chép vận mệnh vũ trụ, đang phát sáng và khẽ run lên bần bật. Phải chăng lúc này đây đến cả ánh sáng cũng đang run sợ trước vực thẳm vô biên, tà khí quỷ dị do Minh Vương tạo ra? Dưới bậc ngọc điện cao vời, một thiếu nữ quỳ gối cô độc. Nàng là Thiên Diệp, một trong hai Hộ Pháp của Thiên Cung, nàng vận bạch y tinh khiết lòa xòa chạm đất, mái tóc đen huyền óng ả rũ mềm, gương mặt thanh tú khả ái, làm da trắng tựa tuyết ban mai. Đôi tay nàng đẫm máu, đang nắm chặt một lọ dược sứ vỡ nát.

    “Không phải thiếp… không phải thiếp muốn hại người… Lam Ảnh nói đó là linh dược… để người nhìn thấu tấm lòng thiếp…” Nàng gục đầu xuống, tiếng nấc vỡ òa hòa cùng tiếng sấm sét xé toang bầu trời. “Thiếp chỉ muốn… người đừng rời bỏ thiếp, bên cạnh thiếp mãi mãi…” Không một ai đáp lời nàng. Cả trời đất cũng dường như câm nín và cảm thán, vừa giận vừa thương, không còn lời nào để biện giải. Thiên Linh, vị Hộ Pháp còn lại của thiên cung, tiến đến bên cạnh nàng. Ánh sáng thanh dịu từ Huyền Vũ – thần thú tọa trấn sau lưng chàng lặng lẽ bao bọc lấy Thiên Diệp, nàng đang run rẩy như cành đào mong manh trước cơn bão tuyết. “Nàng đã chịu đủ khổ đau rồi,” Thiên Linh khẽ thì thầm, ánh mắt tràn đầy xót xa. “Tội không nằm ở nàng, ta không tin nàng là người bỏ độc hãm hại Thiên Đế, người mà bấy lâu nàng vẫn hằng ao ước được sở hữu trái tim. Nhưng Thiên Diệp muội tử ơi, nàng có quá ngây thơ không khi tin vào lời ngon ngọt dụ dỗ của Lam Ảnh, nàng rõ biết trước giờ hắn – một trong Tứ Đại Thiên Vương, vốn bất đồng chính kiến với chúng ta mà.” Cùng lúc đó, Thiên Đế đưa tay, nâng cuốn cổ thư Khởi Nguyên lên ngang ngực. Đôi mắt thâm sâu của ông nhìn về phía chân trời vô tận, nơi vầng dương quang bắt đầu tan chảy vào hư vô. “Nếu niềm tin đã vỡ vụn, vậy thì chúng ta…chúng ta…hãy để nhân loại lần này tự mình lựa chọn vận mệnh.” Nói đoạn, ông xé toạc Khởi Nguyên ký. Cổ thư vỡ thành năm mảnh, hóa thành những luồng sáng chói lọi, phiêu tán về năm phương trời, tia sáng cuối cùng rơi khỏi Thiên Cung, tựa một vì sao băng chệch khỏi quỹ đạo, gieo hạt giống mới xuống nhân gian xa thẳm. Liên tiếp các tiếng sấm nổ vang trời, cột trụ Thiên Cung sụp đổ. Ngay lúc đó, Thiên Đế tung mình nhảy khỏi tầng mây, thân thể hòa làm một với ánh sáng, lao thẳng xuống cõi hồng trần…Từ đây, Thiên Giới không còn tồn tại vì người thủ lĩnh suốt mấy trăm năm qua đã hoá kiếp chuyển sinh, để lại một thiên cung từng hừng hực hào quang sáng chói bao phủ lục địa năm xưa, nay đã thành đống đổ nát sau sự tấn công bất ngờ của Ma giới do Minh Vương Vô Thiên dẫn đầu. Ngay lúc đó, cả Thiên Cung rung chuyển rồi đổ sập, một tiếng nổ lớn vang lên, tất cả công trình kì vĩ treo lơ lửng trên tầng trời thứ mười hai tan vào hư vô không để lại chút dấu vết, một màn đen buông xuống, báo hiệu tương lai u ám sắp tới. Nhưng đâu đó trong trái tim của mỗi vị thần, hạt giống mà Thiên Đế đã gieo khi nãy chính là hi vọng cho sự trở lại sau này, một ánh sáng mới, một khởi nguyên mới, sắp sửa bùng lên rực rỡ.

    ******

    Tám trăm năm đã trôi qua kể từ ngày Thiên Cung sụp đổ, dấu tích vàng son nay đã hóa thành truyền thuyết. Dưới nhân gian, thế giới đã phát triển rất nhiều so với trước đây. Thiên hạ hiện chia làm năm nước lớn gồm Ất Mộc ở phía Đông, Canh Kim ở phía Tây, Bích Hoả ở hướng Nam, Quý Thuỷ ở phương Bắc và Mậu Thổ tại trung tâm, ngoài ra còn có bốn quốc gia trung lập và mười nước nhỏ, phụ thuộc vào năm nước lớn. Để điều phối và cân bằng lợi ích, tránh chiến tranh vô nghĩa, bảo hộ cống phẩm và giữ ổn định đại lục, một tổ chức quyền lực tối cao đã được kiến lập, gọi là Hội Đồng Thế Giới, là nơi định đoạt các vấn đề trọng yếu về thương mại, đầu tư, quốc phòng và liên minh giữa các quốc gia. Tại Lạc Thiên Hội Nghị Đình của Ất Mộc Quốc, một đại điện sáng rực bằng thủy tinh trong suốt, lơ lửng giữa tầng không, uy nghi như tiên phủ, Hội nghị thường niên năm nay được diễn ra trọng thể. Ngũ Vương của năm đại quốc và đại diện chín nước nhỏ thần phục đều tề tựu. Duy nhất vắng mặt là đại diện Tùng Hoa Quốc, vừa nổi loạn và đang bị trấn áp bởi quân đội Ất Mộc. Chủ tọa hội nghị là Lam Ảnh, vị vua của Quý Thủy Quốc, hắn là đương kim Chủ tịch Hội Đồng Thế Giới. Hắn ngồi thẳng lưng, tay đặt hờ trên long án điêu khắc tinh xảo, ánh mắt nửa khép nửa mở như đang ngủ, nhưng không điều gì có thể lọt khỏi tầm quan sát sắc bén của hắn. Bốn vị vương lớn còn lại gồm Minh Phượng của Bích Hỏa Quốc, Hoàng Chung của Canh Kim Quốc, Thiên Linh của Mậu Thổ Quốc và Bạch Tinh của Ất Mộc Quốc, mỗi người đều mang một khí chất riêng biệt: uy nghi ngút trời, sắc sảo tinh anh, cứng cỏi như thép, trầm ổn như núi. Riêng Bạch Tinh, hoàng đé Ất Mộc vận long bào ngọc lam thêu rồng ẩn hiện, gương mặt hòa nhã tựa gió xuân, giọng nói nhu thuận như nước chảy nhưng lại ẩn chứa ánh mắt sâu thẳm, dường như không ai có thể dò xét được suy nghĩ của hắn.

    Cuộc thảo luận đang xoay quanh việc bầu lại chức Chủ tịch Hội Đồng cho nhiệm kì năm năm tiếp theo thì một cận thần của Ất Mộc Quốc vội vã tiến vào, quỳ một gối, giọng vang vọng khắp đại sảnh, báo tin chiến thắng:

    – Tâu bệ hạ! Đại tướng quân Khai Minh đã toàn thắng tại Tùng Hoa Quốc! Quân phản loạn bị tiêu diệt tan tác, ngài đang dẫn quân khải hoàn trở về kinh thành!

    Không gian chợt lặng đi một thoáng. Vài vị vương trong hội nghị liếc nhìn nhau, ánh mắt đầy ẩn ý. Ai cũng biết, Khai Minh, Trấn Quốc Đại Tướng Quân của Ất Mộc, không chỉ là một danh tướng trẻ tuổi lẫy lừng, mà còn là người đang được lòng dân chúng bốn phương, được ca tụng như biểu tượng của niềm tin và chính nghĩa, là trụ cột vững chắc của quốc gia, đại diện cho thế hệ mới. Hoàng đế Bạch Tinh khẽ mỉm cười gật đầu, giọng nói điềm đạm, không chút gì thể hiện cảm xúc:

    – Rất tốt. Truyền lệnh ta, chuẩn bị lễ đón tướng quân về triều thật long trọng!

    Trong khoảnh khắc đó, ánh mắt ông ta thoáng liếc về phía Lam Ảnh, tựa như tia chớp xẹt qua bầu trời đêm. Cũng chính lúc đó, Lam Ảnh khẽ ngước lên, đôi mắt sâu như vực thẳm, tựa hồ như đã hiểu ý của Bạch Tinh. Không lời nào nói ra nhưng dường như cả hai đang có một âm mưu gì đó thật độc địa, thật thâm sâu, vì trong cuộc chơi chính trị, không có chỗ cho sự ngây thơ hay mềm lòng. Bên ngoài cửa sổ, một con chim đen huyền bí rời khỏi điện, lao vút về phía Bắc, nơi rừng sâu sương phủ dày đặc, ẩn chứa vô vàn bí mật và là lãnh địa Quý Thuỷ của Lam Ảnh.

    Đêm buông chậm, màn đen bao trùm con đường đá nối Tùng Hoa quốc với kinh thành Thái Dương của Ất Mộc. Ba vạn quân Ất Mộc tiến bước đều đặn trong tiếng kèn đồng trầm đục, hùng tráng như tiếng vọng từ ngàn xưa. Dẫn đầu đoàn quân là Khai Minh, toàn thân vận giáp bạc hoàng kim lấp lánh dưới ánh trăng mờ, cưỡi trên lưng tuấn mã đen tuyền, phong thái uy nghiêm như một vị thiên thần giáng thế. Ánh mắt chàng sáng như gươm đã rút khỏi vỏ, ẩn chứa khí phách ngút trời, nhưng vẫn giấu một tia bình thản lặng yên như mặt hồ không gợn sóng, ẩn chứa sự tinh tường hiếm có. Đúng lúc đó, rừng cây ven đường bỗng rung động dữ dội, không có bất kì dấu hiệu nào báo trước, từ hai bên sườn núi, hàng loạt hắc y nhân lao ra như bóng ma, thân pháp quỷ mị, không một tiếng động. Trong tay họ là đoản đao hắt lên ánh sáng xanh lập lòe, trên người tỏa ra khí tức sát thủ lạnh lẽo thấu xương. Bọn chúng không chần chừ, lập tức ra tay tấn công Khai Minh, chiêu đầu chém tới nhanh như chớp giật, nhưng bọn sát thủ che mặt đã lầm, đã đánh giá thấp đối thủ của mình. Khai Minh tung người khỏi ngựa, động tác nhẹ nhàng như gió thoảng, tay rút kiếm khỏi vỏ. Một đường kiếm vẽ lên bầu trời đêm như dải ngân hà vắt ngang không trung, phá tan thế bao vây trong chớp mắt. Chàng di chuyển giữa loạn trận như rồng thần giáng thế, mỗi bước chân di chuyển thanh thoát, thân pháp cao cường và võ công biến hoá khôn lường, đánh cho bọn sát thủ tơi bời hoa lá, vì vốn dĩ chàng là một đại tướng quân, võ công hay khí thế đều đủ để áp đảo bất cứ ai, có lẽ bọn chúng quá khinh địch, coi thường nột vị tướng quân trẻ tuổi. Tuy nhiên, bọn hắc y nhân cũng không phải những kẻ tầm thường, trong lúc sơ hở, vai trái Khai Minh đã bị trúng ám khí từ một tên trong bọn sát thủ phóng ra, đột nhiên chàng cảm thấy cánh tay tê buốt mất hết cảm giác, thoáng chốc đã bị bọn chúng bao vây.

    – Bảo vệ tướng quân!  Tiếng quát vang vọng của tên đội trưởng, đội hộ vệ nhất tề lao tới, quyết tâm bảo vệ chủ tướng.

    Bọn sát thủ thấy đại quân quá đông nhất tề xông tới cứu viện cho Khai Minh, tên cầm đầu nghĩ rằng đêm nay khó đạt được mục tiêu giết chàng, nhưng cũng đã ám toán chàng thành công, liền lập tức ra hiệu cho cả bọn rút lui vào bóng đêm, bỏ lại vài xác chết của các binh lính đi đầu nằm lạnh lẽo trên đất. Khai Minh được các binh sĩ đỡ lên ngựa và từ từ tiến về địa phận Thái Dương Thành với vết thương rỉ máu trên vai trái.

    Sáng hôm sau, tại một tiểu viện tĩnh mịch ven thành, Dược Vương Khương Bách, nghĩa phụ của Khai Minh, người nổi danh khắp đại lục về y thuật cao siêu, đang truyền sức, dùng thuốc để giải độc cho Khai Minh. Người lão gầy gò, cao ráo, mái tóc đã bạc nhưng vầng trán cao, ánh mắt sáng như đuốc, dường như có thể thấu thị mọi sự trên đời. Hai tay ông đặt lên lưng chàng, từ từ truyền nội lực sang, luồng khí nóng lan khắp huyệt mạch, xua đi hàn khí và sự đau nhức do độc tố gây ra.

    – Nội công của con đã tự bảo vệ tâm mạch, độc này tuy mạnh nhưng chỉ có tác dụng với bọn yếu kém, cũng may nội lực con thâm hậu. Nhưng con nhớ kỹ trong mấy ngày này phải an thần tịnh dưỡng, tuân thủ phác đồ điều trị ta đã cho con, nhớ uống thuốc đúng giờ. Nghĩa phụ Khương Bách nghiêm nghị dặn dò.

    Khai Minh khẽ gật đầu. Trong ánh mắt chàng hiện lên sự ấm áp và hạnh phúc vì được nghĩa phụ yêu thương và chăm sóc. Khai Minh từ nhỏ mồ côi, được nghĩa phụ nhặt từ trong rừng đem về nuôi, chuyện mới đó mà đã hơn 20 năm. Chàng được nghĩa phụ nuôi dạy nên người, truyền thụ võ công cũng như đạo đức đối nhân xử thế, giờ đây chàng đã là một đại tướng quân đức cao vọng trọng khi tuổi đời còn rất trẻ, lại vừa lập chiến công cho đất nước, so với một đứa bé mồ côi như chàng nếu không gặp được nghĩa phụ, thì chắc có lẽ những chuyện này chỉ xảy ra trong giấc mơ mà thôi. Chàng đang miên man suy nghĩ thì bỗng ngoài cửa vang lên một tiếng gõ nhẹ. Một bóng người áo trắng tinh khôi bước vào, mang theo hơi sương buổi sớm se lạnh. Đó chính là Thiên Diệp, nhị công chúa của Ất Mộc Quốc, nàng có mái tóc đen huyền buông dài, áo lụa trắng như mây phiêu bồng, tay ôm một hộp gỗ chạm khắc tinh xảo. Nàng không mang theo bất kỳ lễ nghi rườm rà nào của hoàng thất, chỉ dẫn theo một cung nữ tên Như Yên, một cô gái dễ thương và có đôi mắt to tròn trong sáng. Thiên Diệp cúi chào Dược Vương, cha con Khai Minh cũng đứng dậy hành lễ, nhưng vì cử động nên vai trái chàng lại chảy máu. Thiên Diệp vội đỡ chàng ngồi xuống rồi nói:

    – Hai vị không cần đa lễ, đại tướng quân lập đại công cho triều đình nhưng lại bị thích khách ám toán, ta hay tin lòng dạ bồn chồn nên đến đây thăm hỏi, sẵn ta có mang theo một củ nhân sâm ngàn năm mà năm trước Ngọc Phong quốc tiến cống cho Thái hậu, ta được người ban tặng lại, hôm nay đem đến đây tặng cho tướng quân dùng để vết thương mau khỏi, ngài là trụ cột quốc gia, không thể xảy ra chuyện gì được.

    Khai Minh nhìn nàng, hai ánh mắt ẩn chứa nhu tình chạm nhau nhưng không dừng lại lâu vì nơi đây còn có Khương Bách và Như Yên. Nhưng chỉ một cử chỉ đó thôi cũng đủ thấy cả hai đang có tình ý với nhau. Dược Vương lên tiếng:

    – Tạ ơn công chúa điện hạ đã quan tâm nghĩa tử của ta, người đích thân đến đây thật là vinh dự cho cha con ta, xin đa tạ người.

    Thiên Diệp khoát tay, đáp lại một cách cung kính:

    – Cha con hai vị đều là cao nhân có lòng dạ tốt bụng, cha thì hành y cứu người, con thì giết giặc bảo vệ tổ quốc, chỉ như vậy thôi cũng đủ cho ta kính trọng rồi, việc tặng nhân sâm không phải ban ơn gì cả, mà chỉ là chút lòng thành cảm tạ ân đức của hai người mà thôi.

    Nhị công chúa Thiên Diệp không những xinh đẹp dịu dàng, hiền thục đoan trang lại còn lễ phép, thương dân như con, tinh thông cầm kì thi hoạ, võ nghệ cao cường, nàng không phải là một cô gái bình thường, nàng là nữ trung hào kiệt của hoàng thất Ất Mộc. Thiên Diệp và Như Yên cáo từ cha con Khương Bách, Khai Minh rồi trở về cung. Ba ngày sau, tại Ngọc Minh Điện, triều đình mở đại yến mừng công, pháo hoa nổ vang trời. Ánh đèn lồng treo sáng rực rỡ, nhạc trỗi vang lừng, mùi rượu nồng hòa với tiếng chúc tụng hoan hỉ từ bá quan văn võ. Hoàng đế Bạch Tinh ngồi trên điện cao, nâng chén ngọc bích, giọng nói vang vọng khắp đại sảnh:

    – Nhờ công lao hiển hách của Trấn Quốc Đại Tướng Quân, biên cương yên ổn, lòng dân vững vàng.

    – Toàn quốc xin kính chúc tướng quân khải hoàn! Tiếng hô “vạn tuế” vang rền như sấm động, chén rượu đồng loạt nâng cao.

    Khai Minh cúi đầu nhận lễ, thái độ khiêm cung, thần sắc điềm đạm, không chút kiêu ngạo dù vừa lập chiến công lừng lẫy. Ở một góc điện xa, có một người không uống rượu và cũng chẳng vui mừng. Người đó là Thanh Khôi, Tể tướng Ất Mộc Quốc, hắn mím môi đứng lặng, ánh mắt phức tạp thể hiện nhiều suy tư trong lòng. Hắn nhìn Khai Minh không chớp mắt, dõi theo từng cử chỉ của chàng. Nhưng trong tận cùng trái tim, hắn có vẻ như đang ghen tị với Khai Minh, cả hai cùng độ tuổi, một kẻ đứng đầu quan văn, một người thống lĩnh quan võ, là hai cánh tay đắc lực trợ giúp Bạch Tinh thống trị cả một vùng phía đông rộng lớn của lục địa, nhưng Khai Minh liên tiếp lập được công lớn khiến cho Thanh Khôi bị chìm xuống so với tham vọng và sĩ diện của hắn, việc hắn ganh ghét Khai Minh cũng là lẽ thường ở đời. Hắn siết chặt chén rượu trong tay, ngón tay nổi gân xanh, tựa như đang bóp nát một mối hận thâm sâu.

    Bên ngoài hoàng cung, pháo hoa vẫn nổ vang rền trời, vẽ nên những bông hoa ánh sáng rực rỡ. Nhưng cùng thời điểm đó, trong một căn mật thất tối tăm không ánh sáng, chỉ có đèn cầy leo lét, một tấm bản đồ quân sự của Ất Mộc Quốc được mở ra trên bàn đá lạnh lẽo, trên bức vách hiện lên hai bóng người đang trò chuyện với nhau. Ất Mộc Quốc xem ra không hề yên bình như vẻ bề ngoài đang thể hiện, bên trong e rằng có nhiều âm mưu và thủ đoạn đang âm thầm diễn ra, chỉ chực chờ bùng nổ khi thời cơ tới.

    ******

    Không lâu sau đại yến mừng công, bầu không khí vui vẻ tại Ất Mộc Quốc vẫn chưa kịp lắng xuống thì những cánh thư khẩn từ biên giới phía Đông đã lần lượt bay về điện Ngọc Minh. Mỗi ngày có hàng chục bức thư khẩn 600 dặm truyền tin liên tục về kinh đô.

    Khai Minh ngồi trầm mặc trước cửa sổ, ánh mắt lặng lẽ nhìn về nơi xa xăm, dường như đang chứa đựng nỗi niềm sâu xa nào đó. Sau lưng chàng là tập hồ sơ dày về tình hình chính trị Tùng Hoa, một bản báo cáo chi tiết có đóng dấu tối mật được gửi đến từ các trạm tin báo từ biên cương xa xôi. Thông thường bản báo cáo này chỉ gửi cho hoàng đế và vài vị trọng thần trong triều đình và Đại tướng quân Khai Minh là một trong số đó. Dưới ánh đèn dầu mờ nhạt, thế giới thật ra chưa từng bình yên như vẻ ngoài, tuy có Hội đồng Thế Giới lãnh đạo nhưng các quốc gia bên trong vẫn nghi kị, ganh đua lẫn nhau, ai cũng vì lợi ích quốc gia mình. Khai Minh lật kĩ từng trang báo cáo, chàng chau mày suy nghĩ về tin tức trong đó, vừa đọc vừa phải phân biệt và lọc ra xem tin nào là thật, tin nào là giả và tin nào là tin rác. Bản báo cáo viết:

    Cục diện hiện tại của đại lục gồm mười chín quốc gia, được chia làm ba tầng nấc rõ rệt:

    Ngũ đại quốc, năm nước lớn đóng vai trò trụ cột của Hội đồng Thế giới:Ất Mộc (phía Đông): nổi tiếng về y thuật, thảo dược.Canh Kim (phía Tây): sở hữu khoáng sản, luyện kim.Bích Hỏa (phía Nam): chuyên về học thuật và trận pháp.Quý Thủy (phía Bắc): âm u, lạnh lẽo, độc trùng và độc dược.Mậu Thổ (trung tâm): thương mại và buôn bán tấp nập.

    Mười nước nhỏ thần phục ngũ đại quốc: Ất Mộc (Tùng Hoa Quốc, Ngọc Phong Quốc); Canh Kim (Thiết Huyền Quốc, Kim Sa Quốc); Bích Hoả (Viêm Tuyết Quốc, Dương Diệm Quốc); Quý Thuỷ (Hàn Lâm Quốc, U Ảnh Quốc) và Mậu Thổ( Thạch Long Quốc, Trường Tâm Quốc).

    Bốn quốc gia trung lập vốn không chịu ảnh hưởng trực tiếp của ngũ đại quốc, nhưng cũng là thế lực tiềm ẩn chưa rõ mục đích: Huyễn Quốc: vùng đất của huyễn thuật và dịch dung. Tinh Hà Quốc: vùng đất thiên văn thần bí, nắm giữ những bí mật cổ xưa. Lạc Thiên Quốc: chiến trường cũ bị nguyền rủa, không ai muốn nhắc đến. Thanh Dạ Quốc: nơi nghệ thuật và các nghệ sĩ được trọng vọng.

    Từ hàng trăm năm nay, Ất Mộc và Tùng Hoa vốn giữ mối bang giao ổn định. Tùng Hoa nhỏ bé nhưng hiền hòa, chuyên sản xuất thảo dược, ngọc bích và các loại gỗ quý, hàng năm họ lựa chọn ra những thứ quý giá nhất để cống nạp và đổi lấy sự bảo hộ an ninh từ Ất Mộc. Nhưng cơn bão thường khởi đầu từ một vết nứt rất nhỏ và thường âm thầm diễn ra trong nhiều năm, nó tích tụ dần dần. Hai mươi năm trước, hoàng đế Bạch Tinh bắt đầu thay đổi toàn bộ chính sách thu thuế và quản lý mối quan hệ với các nước láng giềng. Những chiếu chỉ mới liên tiếp được ban ra: tăng số lượng cống phẩm hàng năm, cử quan viên tham lam, tàn bạo sang giám sát quân chính, dân sự Tùng Hoa, hủy bỏ học bổng cho học sinh từ Tùng Hoa đến học viện Ất Mộc tham gia đào tạo. Trong mắt dân chúng Tùng Hoa, vị vua của Ất Mộc không khác nào một tên bạo chúa đang hút máu quốc gia của họ, nỗi căm hận đó tích tụ từ đời trước sang đời sau, nhưng lúc đó Tùng Hoa quốc còn yếu thế, quốc lực có hạn nên vẫn nhẫn nhịn, cam chịu và không dám chống đối các yêu sách của Bạch Tinh. Tuy nhiên cho đến ba năm trước đây, tể tướng Tùng Hoa, người được lòng dân, là quan thanh liêm lại chủ trương hoà bình với Ất Mộc, lại bất ngờ bị ám sát trên đường đi công cán, hung thủ là một kẻ thần bí, ra tay nhanh gọn và không để lại dấu vết, điều này càng làm cho dân chúng Tùng Hoa thêm mối hận với Ất Mộc. Ngay sau đó, những kẻ cực đoan chủ chiến trong nội bộ Tùng Hoa giành được quyền lực bị bỏ trống, cắt đứt quan hệ bang giao với Ất Mộc, tịch thu tài sản, đóng của trụ sở đại diện của Ất Mộc tại Tùng Hoa, kêu gọi người dân đứng lên chống lại sự áp bức hà khắc của Bạch Tinh. Điều này dường như có bàn tay sắp đặt khéo léo của ‘ai đó’, nhằm chia rẽ mối quan hệ của hai nước hòng hưởng lợi đôi bên. Người dân Tùng Hoa tuy uất hận nhưng chưa dám đứng lên, cho tới khi cái chết của vị tể tướng mà họ yêu quý xảy ra như giọt nước tràn ly. Khai Minh hiểu rất rõ đạo lý trên đời: không có chuyện gì xảy ra mà không có lí do, Tùng Hoa Quốc đã tới ngưỡng chịu đựng nên họ mới đứng lên chống lại Ất Mộc Quốc của chàng. Nhưng chàng cũng đang có suy nghĩ là những chính sách khắc nghiệt đó của Bạch Tinh bệ hạ liệu có ai giật dây, thao túng phía sau hay không? Bản thân chàng không muốn chiến tranh, vì chiến tranh chỉ gây đau khổ cho dân chúng, lại làm chậm chạp sự phát triển của một quốc gia. Vì yêu hoà bình nên trong trận chiến với Tùng Hoa vừa rồi, chàng không hề chủ trương giết nhiều người, đa số quân Tùng Hoa bị bắt làm tù binh, đợi có dịp phù hợp chàng sẽ bẩm tâu lên bệ hạ để trao đổi tù binh giữa hai nước.

    Chàng ngước mắt nhìn ra sân, nơi những chiếc lá đầu tiên của mùa thu bắt đầu rơi. Dược Vương Khương Bách đứng bên cạnh, tay chắp sau lưng với ánh mắt trầm lặng của một người từng trải, ông nói với nghĩa tử của mình:

    – Trò chơi đã bắt đầu khi con chính thức tham gia cuộc cờ này, là thắng hay thua sẽ nằm ở các quyết định của con có đúng hay không.

    Khai Minh khẽ khom mình, nhặt lấy một chiếc lá rơi rồi đáp:

    – Nhưng hiện tại hài nhi vẫn chưa biết kẻ nào đã dựng bàn cờ này lên.

    Ở thư viện trung tâm của Ất Mộc, ánh đèn dầu ban đêm vẫn còn sáng, tể tướng Thanh Khôi đang xem lại hồ sơ về mối bang giao với các nước trên khắp đại lục hiện nay, xem mức độ ngoại giao của Ất Mộc với họ như thế nào. Động cơ của vị tể tướng trẻ này là gì chắc chỉ có trong lòng hắn biết, nhưng xem ra hắn vẫn chưa nuốt trôi được việc Khai Minh lập được đại công vừa rồi, có vẻ như hắn đang tìm hiểu về nguyên nhân xảy ra chiến tranh Ất Mộc – Tùng Hoa. Trong khi đó, ở phương Bắc xa xôi, trong cung điện Quý Thủy giá băng, hoàng đế Lam Ảnh đứng trước một ô cửa sổ tròn khắc hình rồng uốn khúc, tay hắn cầm một bức thư, miệng hắn nhấp một chén trà, khẽ mỉm cười bí ẩn.

  • Welcome to WordPress! This is your first post. Edit or delete it to take the first step in your blogging journey.